Page 245 - Việt Sử Kỷ Yếu
P. 245

Công -  Theo  đà  tiên  hoá  chung,  có  những người tách  ra khỏi
       đám nông dân, chuyên chú hành nghề tiểu thủ công nghiệp.
             Lý  Thường  Kiệt  sang  đánh  Tông  có  bắt  đem  về  một  sô" thợ
       làm  nghề  gôm  sứ.  Được  ưu  đãi,  họ  truyền  nghề  làm  bát  đĩa  cho
       dân  ta.  Sô' thợ  thuyền  chuyên  môn  không  nhiều  lắm.  Thợ  khéo
       kiếm ăn cũng tương đốì khá nhưng không phải ai cũng có việc làm
       quanh  năm.  Có  nhiều  nông  dân  làm  nghề  phụ,  chế tạo  đồ  dùng.
       Dưới triều Trần,  thợ thuyền  tập  hỢp  lại thành  những phường,  xã,
       chuyên môn làm  một thứ nghề nghiệp.
             Thương  -  Thương nghiệp chưa phát triển  được  mấy.  Sô' người
       hành  nghề buôn bán  không  nhiều.  Ai  có  được  căn  phô' hay  một vài
       thuyền đinh lốn đã kể là giầu có. Việc buôn bán nhỏ phần lớn do đàn
       bà  con  gái  đảm  nhận,  cảng  Vân  Đồn  được  mở  cho  thương  thuyền
       ngoại  quốc  đến  mua  bán.  Người  nước  thu  nhặt  hàng  hoá  bán  cho
       người  ngoại  quốc  cũng  đến  mua  bán.  Người  trong  nước  thu  nhặt
       hàng  hoá  bán  cho  người  ngoại  quốc  củng  ở  đấy,  chứ  chưa  ai  đem
       thương thuyền chở hàng ra bán ơ nước ngoài. Thương nhân,  dù giàu
       có, ít được tôn trọng và không có ảnh hưởng đến chính trị.
             Nói  chung,  công  nghiệp  và  thương  nghiệp  nước  ta  thòi  Lý,
       Trần còn lạc hậu, tuy có hơn thời trước phần nào.
             Văn  hoá  -  về  văn  học  thì  dưới  triều  Lý,  việc  học  hành  mở
       mang,  sang  triều  Trần  đã  thịnh.  Tác  phẩm  văn  chương  triều  Lý
       không  truyền  lại  được  gì,  ngoài  bài  thơ  của  Lý  Thường  Kiệt  đuổi
       giặc.  Thơ  văn  triều  Trần  thiết  thực  và  rắn  rỏi,  không  có  việc  lời
       kêu  mà  ý  rỗng.  Cũng  từ  triều  Trần,  quốc  âm  được  dùng  vào  văn
       chương.  Rất tiếc  Tứ thư thuyết ước  của  Chu An và  sách Minh đạo
       và Thi nghĩa của Lê Quý Ly không còn lưu truyền lại.
             Hầu hết các tác phẩm  văn học đã bị  quan  nhà  Minh  thu hêt,
       người mình không còn giấu giếm giữ lại được mấy,  nay chỉ còn lưu
       truyền ít  văn thơ chép trong Toàn  Việt thi lục của Lê  Quý Đôn và
       Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích.
             Các  thơ của Trần Thánh Tông,  Trần  Nhân Tông,  Trần  Quang
       Khải,  Phạm  Ngũ Lão, Đặng Dung, Hịch tướng sĩ văn, sách Binh thư
       yếu  lược,  Vạn  Kiếp  bí  truyền  của  Trần  Quốc  Tuấn,  bài  phú  Bạch
       Đằng giang của Trương Hán Siêu, v.v... đều bằng chữ Hán.
             Về sử  có  Lê  Văn  Hưu  viết Đại  Việt sử ký,  Lê  Trắc, An Nam
       chí  lược,  Hồ  Tôn  Thốc  (Xác),  Việt  Nam  thế chí  và  Việt  s ử  cương
       mục.  Còn  có  hai  nhà  vô  danh  viết  Việt sử lược và  Thiền  Uyên  tập
       anh cũng gọi là Đại Nam thiền uyên đăng tập lục.
                                                                              245
   240   241   242   243   244   245   246   247   248   249   250