Page 247 - Việt Sử Kỷ Yếu
P. 247
KHỞI NGHĨA LAM SƠN
MLÍÒI NĂM ĐÁNH QUÂN MINH 1418 -1427
LÊ LỢI KHỞI NGHĨA ở LAM SƠN - Dưới ách đô hộ nhà Minh,
quan lại người Hán và người bản xứ theo giặc tham tàn bạo ngược,
nhân dân ta lầm than cực khổ, tức giận ngấm ngầm trong tâm
can, nên hễ có hào kiệt nổi dậy chông đổi thì ùa theo ngay. Sau
Trùng Quang, lãnh tụ người họ Trần cũng lần lượt bị bại vong:
Trần Quý Tám năm 1414, Trần Nguyệt Hồ năm 1415. Sau có
Nguyễn Trinh nổi dậy ở Lục Na (Bắc Giang), Nguyễn Chính ở
Nông Công (Thanh Hoa), Xa Tam (người Thái) ở Sơn La, Lê Hách
và Phan Cường ở Thuận Châu, đều không chống chọi lại được lâu
dài. Riêng đoàn nghĩa quân Lam Sơn, do người anh hùng Lê Lỵ
(quen gọi là Lê Lợi) *** cầm đầu, hoạt động quy mô rộng lớn, kiên
trì chống giặc suổt mười năm, khôi phục được giang sơn, xây dựng
lại nền độc lập nước nhà.
Lê Lỵ (Lợi) người làng Lam Giang, huyện Lương Giang, phủ
Thanh Hoa, nay là huyện Thuỵ Nguyên, mấy đời làm canh nông
giầu có lón, kiếm chức phụ đạo (thổ hào) trong vùng, gia nô trong
nhà có hàng ngàn, tính hào phóng, hay giúp đỡ những kẻ nghèo
khó nên được mọi người theo phục. Người Minh nghe tiếng dụ dỗ
ra làm quan, ông khảng khái không chịu, nói; “Làm trai sinh ở
trên đời, nên giúp nạn lớn, lập công to, để tiếng muôn đời, chứ sao
lại chịu bo bo làm đầy tớ người ta”. Dấu tiếng ở chôn sơn lâm,
ngầm có chí lớn khôi phục non sông, hạ mình đón mòi các hào
kiệt, tung tiền của nuôi binh sĩ, chiêu nạp những kẻ mắc lỗi trôn
tránh, sô' người theo phục mỗi ngày một đông. Mưu đồ việc to lớn
cần phải sửa nhiều và lâu dài.
Trong thời gian còn ẩn trong bóng tôl, không tiện kinh
động, ông thường đem bảo vật dâng bọn Trương Phụ, Trần Tri,
Sơn Thọ để chúng không nghi ngờ trong lúc còn phải nuôi thêm
sức lực, chờ thời cơ. Hào kiệt bô'n phương đua nhau đến .quy
phục, có cả những người từ Ai Lao sang. Ày là bọn Trịnh Đồ,
Trịnh Khả, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Bùi Quôc Hưng, Lưu
Nhân Chú, Trịnh Võ, Vũ Uy, Lê Liễu, Lê Xa Lôi, cùng nhau bí
mật mUu việc khởi nghĩa.
Nguyên vàn chữ H á n ^ 'J, tiếng Quan hoá là Lih. âm Hán - Việt là Lỵ. Người nước kiêng
tiếng Ly. phú Lỵ Nhân dổi làm Lý Nhân, dọc chệch là Uri. làu thành quen.
247