Page 339 - Dinh Dưỡng Cận Đại
P. 339
8 Tăng calci huyết HHM (humoral hypercalcemic tactor of
malignancy) PTHrP (parathyroid hormone related
protein) PTH (parathyroid hormone)
9 Hormon chống lợi tiểu Vasopressin, atrial natriuretic peptid
10 Hạt mẩu Hormon kích thích tế bào sắc melanin
(melanocyte-stimulating hormone)
1 1 Di căn tĩnh mạch gen pp (polypeptid tuy)
Tăng calci trong máu thường phổ biến trong rốì loạn chuyển hóa của ung thư và
có thể là triệu chứng chung nhất của cận khối u (paraneo plastic syndrom). Khoảng
20 - 40% bệnh nhân ung thư vú, ung thư da (có vảy ở da - squamous), bọng đái,
thận, bội u tủy (multiple myeloma), u bạch huyết (lymphomas) thường tăng lượng
calci trong máu. Khoảng 1/2 tổng sô' tai biến tác động của các loại ung thư trên đều
tăng tuyến cận giáp (hyperparathyroidism) và triệu chứng chung nhất là buồn nôn,
mệt mỏi cơ bắp, đa tiểu tiện, tăng huyết áp, chán ăn, ngủ lịm, mất trí và hôn mê...
Thiếu máu trong bệnh nhân ung thư thường do khá nhiều nguyên nhân- do khẩu
phần ăn thiếu sắt, acid folic hoặc rốì trong chuyển hoá các châ't trên (9).
6. Dinh dưdng điểu trị trong một sô bệnh ung thư
Mục tiêu chính là tăng cường hỗ trỢ trạng thái dinh dưỡng tô't của cơ thể, khắc
phục sự rốỉ loạn trong chuyển hoá chất của bệnh nhân ung thư. Bệnh nhân thường
bị thiếu sinh tô', khoáng vi lượng cấp và mạn tính, thiếu máu, thiếu chất điện ly và
mất cân bằng dịch cơ thể, cần được phục hồi trong một thời gian ngắn.
Trong trường hỢp bệnh nhân phải can thiệp phẫu thuật hoặc hoá trị liệu đã tác
động gây suy nhược cơ thể, phải sử dụng kịp thời biện pháp nuôi dưỡng qua ốhg
thông thẳng vào ruột hoặc tiêm truyền dịch nuôi dưõng qua đường tĩnh mạch.
6.1. Bệnh nhân ung thư ở đẩu và cổ: Đã có trường hỢp khối u làm tắc nghẽn đường
tiêu hoá khi điều trị bằng can thiệp phẫu thuật, chiếu xạ hoặc hoá chất có thể gây
giảm tiết dịch nhày ở họng, miệng khô, mất cảm giác nhận biết khẩu vị, tuyến nưốc
bọt bị suy yếu, bệnh nhân nhai và nuốt khó... cần có biện pháp nuôi dưõng tích cực
đề phòng sự mất nưốc, giảm trọng lượng cơ thể bằng cách cho ăn trực tiếp qua ống
thông trưóc và sau khi phẫu thuật, chiếu xạ, hoá trị liệu 3,4 lần/ngày nếu không ăn
đưỢc trực tiếp qua đường miệng.
Các dạng thức ăn qua ống thông hoặc trực tiếp qua đường miệng cũng cần phải
thay đổi, đảm bảo có sự hấp dẫn về mùi vị, có rau quả tươi, đảm bảo chất lượng
dinh dưỡng cao, cân đô'i và vệ sinh an toàn thực phẩm.
6.2. Bệnh nhân ung thưvòm họng: thường bị khó nuô't, chiễm 90% trong sô' bệnh
nhân, và giảm cân nặng thường trên 9-lOkg. Trưóc, trong và sau điểu trị, bệnh
nhân thường chán ăn, mới ăn đã no (early satiety), hay buồn nôn và nôn, khô
miệng và khó nuốt. Điều trị laser tại chỗ có thể tạo cho bệnh nhân tạm thòi nuốt
được, nhưng sau đó chứng khó nuốt (dysphagia) lại trở lại. Với các bệnh nhân bị
ung thư vòm họng, tô't nhất vẫn là đưa thức ăn qua ông thông vào thẳng dạ dày
331