Page 340 - Dinh Dưỡng Cận Đại
P. 340
hoặc hông tràng (jejunostomytube), có thể chia thành nhiều bữa ăn nhỏ có lượng
glucid cao, protein và lipid vừa đủ.
6.3. Ung thư dạ dày: bệnh nhân thường bị giảm cân, đau bụng, chán ăn, mệt mỏi,
80-85% phải can thiệp phẫu thuật cắt bỏ dạ dày do di căn hoặc gây trở ngại khi ăn.
Đảm bảo nuôi dưỡng cho bệnh nhân sau mổ dạ dày thường mới ăn đã no và không
có khả năng ăn hết khẩu phần qui định, nên dễ bị giảm cân do không đủ chất dinh
dưởng. Bệnh nhân ung thư dạ dày thường bị tiêu hoá hấp thu lipid kém, thiếu sắt,
calci, vitamin tan trong dầu, thiếu acid trong dạ dày... do đó trong điều trị cần chú
ý đặc biệt khâu giáo dục cho bệnh nhân và gia đình cần làm giảm các yếu tô" tâm lý
để làm dịu bớt cơn đau trong quá trình điều trị. cần chia khẩu phần ăn trong ngày
thành 5-6 bữa có lượng protein cao, lượng lipid vừa đủ và giảm lượng glucid, hạn
chê ăn nhiều nưốc. Giảm lượng xơ tiêu hoá và bô sung thêm các vitamin tan trong
dầu, E, D, K, A và vitamin Bi2- Vói bệnh nhân ăn sữa nếu không dung nạp lactose
có thể sử dụng dưới dạng sữa chua. Nếu bệnh nhân không quen dùng sữa, cần
thêm lượng calci dạng muối khoáng trên Ig/ngày (1 0 ).
6.4. Ung thư tuỵ: Triệu chứng chung cũng là đau vùng bụng, chán ăn, buồn nôn,
nôn, giảm cân và đôi khi tắc nghẽn ruột tá tràng (duodenal obstruction). Ăn có
thể làm tăng cơn đau. Trong sô" bệnh nhân bị ung thư tuỵ có khoảng 10 - 12% bị
đái tháo đường và phụ thuộc vào kích thưóc khối u, có khoảng 10 - 35% không
phát hiện thấy lượng đường trong nước tiểu hoặc tăng glucose trong máu. Sự kém
dung nạp glucose có thể làm trầm trọng thêm trạng thái cân bằng dinh dưỡng.
Nuôi dưỡng bệnh nhân ung thư tuỵ cần cung cấp đủ nhiệt lượng và các chất dinh
dưỡng để khôi phục trạng thái thiếu dinh dưõng. Sử dụng loại đường oligosaccarit
là loại đường có ba hoặc nhiều monosaccarit và không cần tối men tuy để thuỷ
phân trong cơ thể và chia ăn thành nhiều bữa để có thể tiêu hoá hấp thu hết khẩu
phần (1 1 )
7. Dinh dưõng phối hợp trong một sô' biện pháp điểu trị tích cực bệnh ung thư
7.1. Hoá trị liệu, xạ trị liệu ung thu: ngoài biện pháp can thiệp phẫu thuật, do hoạt
tính tác dụng của thuốc hoá trị liệu, kể cả xạ trị liệu ít tác động chuyên biệt tói
từng tê" bào ung thư, nếu quá trình điều trị thường gây tác động phản ứng phụ tới
tê" bào chủ và luôn phụ thuộc vào tác dụng hoạt tính của thuốc, liểu sử dụng và thời
gian điều trị v.v... đã gây buồn nôn, nôn và cơ thể mệt mỏi, ỉa chảy, chán ăn, đặc
biệt khi sử dụng các loại thuốc đặc trị mạnh. Các loại thuốc này cũng có thể gây
ảnh hưởng phụ tới phổi, thận, gan và tê" bào thần kinh...
Để giúp bệnh nhân nharih chóng hồi phục sức khoẻ và phối hỢp trong điều trị
bệnh đang ỏ giai đoạn phát triển, thường sử dụng công thức nuôi dưõng ăn theo
ốhg thông (EN - Enteral Nutrition) hoặc qua đường tĩnh mạch (PN - Parenteral
Nutrition) có bổ sung thêm các chất dinh dưõng cần thiết như arginin, glutamin,
acid béo nhóm omega n-3 và RNA nhằm đáp ứng sự tăng cường miễn dịch đốì vối
bệnh nhân ung thư. Nhiệm vụ của công tác nuôi dưỡng chủ yếu, nhằm không để
bệnh nhân tiếp tục thiếu dinh dưõng mà kết hỢp hồi phục các chức năng chuyển
hoá chất trong cơ thể và làm giảm nhẹ các cơn đau trong phát triển các khối u,
ung thư.
332