Page 331 - Dinh Dưỡng Cận Đại
P. 331
dõi thử nghiệm trên động vật khi cơ thể người thiếu vitamin c, sắt, folat, kẽm, sẽ
tăng sự thấm qua và giảm sự toàn vẹn của các biểu mô lợi (cơ chế rất quan trọng
trong bảo vệ răng) (18). Thiếu kẽm trong thử nghiệm trên chuột đã nhận thấy sự
giảm hoạt tính men tạo sừng hoá (19). Bổ sung vitamin E sẽ tác động vết loét
quanh chân răng của chuột mau lành và giảm sự tổn thất xương ổ răng (20). Đã có
tới 32% sô' lượng nữ và nam ở tuổi từ 65 đến 69 tại Hoa Kỳ đã bị mất hết răng (21).
Theo dõi 329 nữ sau mãn kinh bị giảm mật độ xương đã kéo theo mất răng (22) và
giảm mật độ calci ở xương hàm dưới (mandibular). Kiểm tra săn sóc khoang miệng
rất cần đánh giá mật độ xương hàm dưới và thường là kết quả chẩn đoán sóm, phát
hiện loãng xương. Sự tiêu xương tại xương ổ răng đã trỏ thành phổ biến với các
bệnh nhân răng miệng. Khi bị mất răng, xương ổ răng không có nhiệm vụ phải hỗ
trỢ bảo vệ răng, tiếp theo là sự thúc đẩy tiêu xương và chiều cao của xương răng sẽ
bị giảm. Trạng thái của răng luôn có liên quan tới dinh dưỡng của khẩu phần ăn.
Trong nhiều thử nghiệm các tác giả đã nhận thấy những đối tượng ăn ít rau, ít chất
xơ và carotene, ăn nhiều cholesterol, acid béo no, nhiều năng lượng sẽ bị mất nhiều
răng. M ất nhiều răng còn gặp ở đô'i tượng bị rô'i loạn dạ dày, ruột, người già có cơ
thể yếu và suy dinh dưõng protein năng lượng. Khi răng bị suy yếu cần phải chú ý
đảm bảo dinh dưõng tổt khẩu phần ăn vối các thành phần dễ nhai, ăn chậm nhai
lâu, kỹ và nấu thật chín các món ăn đã thái miếng phù hỢp. Cũng cần tránh ăn
thức ăn quá nóng hoặc quá lạnh, quá rắn, có thể gây tổn thương mô, niêm mạc răng
miệng và khi đau răng viêm lợi, trẻ sỢ nhai khi ăn và không thể đảm bảo sự tiêu
hoá năng lượng và hấp thu các chất dinh dưỡng.
10. Ung thư miệng và họng, đái tháo đường
Năm 1996 tại Mỹ có khoảng 8260 ngưồi bị chết vì ung thư miệng, vòm họng.
Những nghiên cứu theo dõi gần đây trên động vật và cơ thể người, đã phát hiện ăn
nhiều rau quả có thể phòng ung thư (carcinomas) miệng (23). Theo dõi tại Hoa Kỳ
(24) bổ sung 30mg p-carotene trong 6 tháng đã giảm 71% tiền ung thư trên người.
Nghiên cứu của Toma khi dùng 90mg P-carotene/ngày trong 6 tháng (25) đã giảm
tỷ lệ gây ung thư vòm họng. Trong thử nghiệm trên động vật cả hai thành phần P-
caroten và vitamin E đã ức chê tác động gây ung thư miệng kèm theo sự suy giảm
bạch sản miệng (regression of oral leukoplakia) (26). Người mắc bệnh đái tháo đường
thường tăng nguy cơ viêm quanh chân răng và mất nhiều răng khi ở thể nặng, cả
hai týp I và II diabetes mellitus đều thay đổi chức năng sinh lý học và giảm sức đề
kháng tăng nhiễm khuẩn đường miệng và nhiễm nấm candida albicans (27). Nếu có
thói quen ăn nhiều kẹo cứng có thể giảm glucose huyết và bị sâu răng nặng.
11. Tác động hiệu quả của nước bọt tới vệ sinh răng miệng và dinh dưỡng
Nước bọt được xem là yếu tô' quan trọng trong chức năng tiêu hoá và bảo vệ
khoang miệng. Ngoài ra còn là thành phần không thể thiếu trong quá trình nuốt và
diễn thuyết. Nếu cơ thể ngừng hoặc giảm bài tiết nước bọt do một sô' nguyên nhân
như phẫu thuật sử dụng thuốc hoặc xạ điều trị (radiation therapy) có thể dẫn tới
nhiễm vi khuẩn khoang miệng, m ất cảm giác nếm tinh tường vị giác (taste acuity)
giảm khả năng bôi trơn, nhai và nuốt. Đặc biệt khi thiếu chất xơ, vitamin Bg, sắt,
calci, kẽm đã gây khô miệng ỏ người lớn tuổi (28). Tại Hoa Kỳ có khoảng 50% người
323