Page 217 - Bệnh Thường Mắc Thuốc Cần Dùng
P. 217
Lưu ý: Không dùng thuốc cho người mắc bệnh mạch vành (có thể
thăm dò liều thấp tăng dần). Coi chừng nhiễm độc giáp (giảm liều).
Đề phòng: Tránh bướu giáp địa phương, dùng thường xuyên muối
iod.
Vậy thì địa phương ít có bướu giáp, có nên dùng thường xuyên vi
lượng iod không, những vùng bướu giáp lưu hành khi cung cấp đủ iod
và với những người có sẵn bệnh tuyến giáp thì việc sử dụng thực phẩm
giàu iod (muối, gia vị iod) và thuốc có chứa nhiều iod thì thế nào?
1/ Bướu giáp địa phương (bướu cổ) hoạt động của tuyến giáp tự
thích nghi với điều kiện thiếu iod, nếu cung cấp đủ iod sẽ có tình trạng
sản sinh dư thừa không thể kiểm soát được nội tiết tố tuyến giáp, xuất
hiện triệu chứng cường giáp (mệt nhọc, hồi hộp, gầy sút, tim đập
nhanh, trống ngực, run tay, ra mồ hôi, bức bối). Và tất nhiên với địa
phương ít bướu giáp (người có nội tiết tuyến giáp bình thường) cũng có
thể có triệu chứng ấy. Nếu với người dùng quá thừa iod sẽ có biểu hiện
suy giáp (mệt nhọc, tăng cân, chuột rút, phù mặt, giảm trí nhớ, sợ lạnh,
chậm chạp, tóc khô dễ gãy, da vảng sáp, lưỡi dày, giọng khàn, thiếu
máu, tim đập chậm).
2/ Những người có sẵn bệnh tuyến giáp, suy hoặc cường giáp lại
càng phải chú ỷ khi dùng các thực chế có ỉod và đặc biệt với các thuốc
có chứa iod để phòng bệnh chữa bệnh (Colchicin, ercefuryl
erythromycin, thyroxin, tranxene, mucitux, praxilen, lipiodol...). cần
được xét nghiệm thăm dò chức năng tuyến giáp trong và sau khi dùng
đề phòng suy hoặc cường giáp.
Phải coi thực chế có iod như là một thuốc, thuốc có chứa iod
dùng phải thận trọng, nên có hướng dẫn của thầy thuốc. Vô tinh dùng
quá liều (các triệu chứng trên) có thể gây bệnh tuyến giáp (suy và
cường) và còn một dạng bệnh khác là do rối loạn chức năng tuyến giáp
(Xem giảm năng và tăng năng tuyến giáp dưới đây).
3. ĐÁI THÁO NHẠT (Dl= Diabetes insipidus)
Một rối loạn nhất thời hay mạn tính của hệ thần kinh tuyến yên do
213