Page 190 - AllbertEstens
P. 190
Mục đích ban đầu của Bell là nghiên cứu vấn để các tham
số ẩn bị cấm bởi định lý von Neumann. Loại lý thuyết sử dụng
các tham sô" này còn được yêu cầu là có tính cục bộ theo nghĩa
của vật lý học cổ điển: Nếu hai hạt ỏ cách xa nhau (trong không
gian) thì một phép đo đối vối một hạt trong sô' đó không làm
nhiễu hạt kia theo bất kể cách nào. Các hậu quả của một phép
đo là cục bộ. Vì theo lý thuyết tương đối hẹp, các tín hiệu không
thể lan truyền nhanh hơn ánh sáng cho nên ta có thể tiến hành
hai phép đo ỏ cách xa nhau một cách thích hợp (rất xa nhau
trong không gian và rất gần nhau về thời gian khiến ánh sáng
cũng không kịp liên hệ chúng vối nhau) sao cho không có thông
tin liên lạc giữa chúng. Khi đó ta nói rằng ta có tính cục bộ
Einstein.
Lý thuyết tham sô" ẩn chấp nhận khái niệm trên được gọi
là lý thuyết tham số ẩn cục bộ. Nó có thể được phân biệt vối cơ
học lượng tử bằng những thí nghiệm thích hợp. Bell đã đưa ra
một đại lượng đo được cho phép thực hiện sự phân biệt đó theo
một bâ't đẳng thức - b ất đẳng thức Bell. Đại lượng này biểu
thị một độ tương quan s giữa hai hạt được tạo ra đồng thời từ
cùng một nguồn. Giá trị của s tiên đoán theo lý thuyết tham số
ẩn (hidden variables theory: HVT) khác với giá trị tiên đoán
theo cơ học lượng tử, cụ thể là (bất đẳng thức Bell): Shvt^ 2 Phụ
lục ở cuối bài này sẽ giới thiệu một cách đơn giản suy ra bất
đẳng thức này.
Năm 1972, s. Freedman và J. Clauser đã thực hiện một
thí nghiệm cho thấy sự vi phạm bất đẳng thức Bell, song kết
quả này chưa được xem là khẳng định vì thí nghiệm chưa đạt độ
chính xác cần thiết. Thí nghiệm thành công đầu tiến là của
nhóm A. Aspect ở Viện Quang học Orsay năm 1982 trong đó các
tác giả xét một hệ hai photon và đo độ phân cực của chúng.
Trong thí nghiệm thứ nhất, hai photon có tương quan (trong
188