Page 193 - AllbertEstens
P. 193
xung quanh. Phương 'trình Schrödinger do đó cần áp dụng
không chỉ cho hệ, thiêt bị đo, mà còn cả môi trường của nó nữa.
Tuy nhiên, khi đo, ta đã bằng lòng chỉ quan sát hệ và thiết bị,
vứt bỏ môi trường sang một bên. Điểu này thực ra không phải là
vì ảnh hưởng của môi trường được xem là có thể bỏ qua, mà
chính là vì người ta chưa biết làm thế nào để xác định được các
đại lượng gắn với các thành phần khác nhau của môi trường.
Nhưng rồi người ta đã tìm ra rằng nếu chỉ quan tâm đến một
phân hệ nằm trong một hệ lớn thì sẽ có thể biết được về phân hệ
này bằng cách thực hiện một phép toán gọi là "lấy vết riêng
phần" đối với hệ lớn. Zurek là một trong những người đầu tiên
đã chứng minh rằng trạng thái thu được bằng cách đó cũng là
trạng thái thu được theo nguyên lý rút gọn hàm sóng. Sự tiến
triển của hệ được mô tả bằng phương trình Schrödinger và
nguyên lý rút gọn hàm sóng rút cục được dung hòa với nhau.
Năm 1996 đã có hai nhóm nghiên cứu tiến hành những
thí nghiệm cụ thể kiểm tra lý thuyết mất kết hợp, tìm xem con
mèo vừa sống vừa chết của Schrödinger có thể chuyển sang thê
giới vĩ mô để trở thành hoặc là sống hoặc là chết như thế nào
[29]. Để thực hiện được thí nghiệm, vấn để cốt yếu là chế tạo ra
những hệ vừa là vĩ mô vừa là vi mô - những hệ trung mô - để sự
mất kết hợp xẩy ra đủ chậm để có thể quan sát được.
Nhóm nghiên cứu thứ nhất đứng đầu là C. Monroe và D.
J. Wineland ỏ NIST (Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia,
Mỹ) đã sử dụng mẫu vật là một iôn berili giữ trong một bẫy điện
từ, iôn được kích thích để tạo ra một chồng chập các trạng thái
điện tử bên trong, các trạng thái này sau đó được tách ra xa
nhau. Bằng cách này, iôn biểu hiện như là tồn tại đồng thời ở
hai vị trí khác nhau (các trạng thái bên ngoài), khoảng cách
giữa chúng đạt tới 80 nanômet, hệ do đó có thể xem như một hệ
trung mô - một con mèo con !
191