Page 327 - Phòng Và Chữa Các Loại Đau Đầu
P. 327
PHÒNG VÀ CHỮA CÁC BÊNH ĐAU ĐẦU
loại bệnh tự miễn (Knorring 1966; T. Sauerbruch,
B.Stuhlinger, H.Kaess 1973...; L.R. Espinoza,
P.BridgeíbrcL. 1982).
e. Sinh thiết động mạch có giá trị chẩn đoán quyết
định
Động mạch thái dương là nơi sinh thiết chọn lọc nhất.
Thường sinh thiết động mạch ở một bên dưới gây tê tại
chỗ, trong buồng phẫu thuật. Trường hợp đặc biệt, khi có
những biến chứng xảy ra ở khu vực khác thì cho làm sinh
thiết ở những động mạch có liên quan trực tiếp. Đoạn
sinh thiết phải đủ độ dài ít nhất là 3 cm để tránh trường
hợp âm tính giả do tổn thương theo đoạn ở động mạch
của bệnh Horton. Lúc đầu tiên, phải làm sinh thiết ở một
bên, nếu kết quả sinh thiết động mạch âm tính mà vẫn
nghi ngờ chẩn đoán thì có thể là sinh thiết bên đối diện,
vì người ta đã có kinh nghiệm rằng chỉ có khoảng 5%
trường hợp xâm nhập viêm độc nhất chỉ ở một bên. Làm
sinh thiết động mạch không gây biến chứng gì, trừ
trường hợp do nhiễm khuẩn hay do gây tê tại chỗ. Những
tai biến mạch máu não xảy ra sau sinh thiết trong những
giờ tiếp theo là ngoại lệ. Hình ảnh GPBL ở động mạch
đều đã được mô tả kỹ, nếu kết quả âm tính, cần phải kiên
nhẫn làm tiếp thêm nhiều tiêu bản thì mới bảo đảm chắc
chắn là đoạn động mạch đó có hay không có tổn thương
của bệnh Horton.
Để đảm bảo cho sinh thiết "trúng", nhiều tác giả
khuyên nên làm sinh thiết có chọn lọc bằng những
phương pháp bổ trợ khác như Doppler và chụp động
mạch cảnh ngoài.
- Làm Doppler: Ơ.Barrier, G.Rotel... (1982) đã dùng
Doppler để xác định đoạn động mạch có những
biến đổi bất thường, đánh giá sự thăng trầm của
dòng máu động mạch mắt hay để theo dõi tiến
triển của bệnh. Tuy nhiên biện pháp Doppler
327