Page 330 - Phòng Và Chữa Các Loại Đau Đầu
P. 330

BỆNH  HORTON


          kém hiệu quả  (theo kết quả nghiên cứu của GG.Hunder,
          SG.Sheps, GL.Allen..., 1975).
              -   Liều tấn công: trường hợp vừa cho 0,7 mg/kg trọng
                  lượng  cơ  thể;  trường  hợp  nặng  cho  1  mg/kg/ngày
                  trong 10 -  15 ngày, sau đó sẽ giảm liều xuống dần.
                  Có  tác  giả  ưa  dùng  liều  tấn  công  tới  một  tháng
                  ngay từ đợt đầu.
              Đợt thứ 2 tiếp theo: cho  10 đến  15 mg/ngày trong mấy
          tháng nữa, tuỳ theo tiến triển của bệnh, để tránh tái phát.
              -  Liều  duy  trì:  liều  lượng và thời  gian  điểu  trị  duy
                  trì thực ra rất khó xác định. Nó còn tuỳ thuộc vào
                  mức độ nặng nhẹ, thể bệnh  và những biến chứng-
                  di  chứng  tồn  tại  cũng  như  khả  năng  chịu  đựng
                  của  từng  bệnh  nhân  với  liệu  trình  điều  trị
                  corticoid liệu pháp kéo dài.
              Theo  nhiều  tác  giả  trên  thế  giới,  thời  gian  điều  trị
          củng cô" thường hiếm dưới  12 tháng  và có thể kéo dài tới
          ba năm.  Liều  duy trì,  nếu lâm  sàng và tốc  độ  lắng hồng
          cầu  trở  lại  bình  thường  thì  cho  giảm  theo  từng  bậc  5
           mg/tuần cho tới  một liều ngưỡng (dose  -  seuil)  tuỳ thuộc
           từng bệnh nhân.  Bắt đầu liều duy trì, thường cho từ 15 -
           20  mg/ngày rồi  giảm  dần  một cách  trải  dài,  không  phải
           giảm liều theo bậc một tuần.
              Trong giai  đoạn tấn công,  nếu chưa có  điều kiện làm
           sinh thiết ngay thì kết quả  đọc sinh thiết cũng không bị
           ảnh hưởng gì bởi thuốc đã dùng  vì tổn thương GPBL tại
           đoạn động mạch đó sẽ còn tồn tại một thời gian tương đối
           dài,  lâu  hơn cả  thời  điểm bình  thường hoá  trở lại  tốc  độ
           lắng hồng cầu.
               Trong  17 trường hợp  Horton của chúng tôi,  phần lớn
           là ở thể vừa, không có biến chứng nặng về mắt, tiến triển
           bán cấp, trên những bệnh nhân có tuổi trung bình không




           330
   325   326   327   328   329   330   331   332   333   334   335