Page 100 - Các Hoạt Chất Tự Nhiên Trong Phòng Bện Ung Thư
P. 100

(5)     Vitamin AJ tế  bào khối u tiền  liệt tuyến  do ức chế hình
          thành  chất  prostaglandin  E2  (P6E2)  là  chất  có  nồng  độ  cao  ở
          khối u.

          2.  DẦU CÁ TRONG PHÒNG CHÕNG  UNG THƯ

              Ung  thư  đại  tràng  là  một  trong  những  nguyên  nhân  gây
          chết  nhiều  trong  sô"  bệnh  ung  thư  ở  Mỹ  gần  133.000  người
          trong mỗi năm, chiếm  11% trong sô" ung thư được chẩn đoán và
          chiếm  10% chết do ung thư. Sự phát triển ung thư đại tràng do
          nhiều nguyên nhân thay đổi nhiều sự truyền như hoạt hoá trội
          lên của protoncogen và sự ức chê’ gen áp  chê" ung thư.  Các biến
          dị tế bào dẫn đến điều hoà sự lớn sai lạc. M ặt khác ung thư đại
          tràng  cũng  còn  có  nhiều  yếu  tô" môi  trường  chi  phôi,  đặc  biệt
          thức ăn là một trong những tác nhân thay đổi quan trọng.
              Thức ăn  nhiều  mỡ, ít xơ  sợi  dễ  dẫn  đến  ung thư  đại  tràng,
          song cơ chê" thì chưa  rõ.  Hiện  nay có bằng chứng mở  rộng rằng
          những  tín  hiệu  được  trung  gian  qua  protein  kinase  c  (PKC)
          liên quan tới sự phát triển ung thư vì mọi tác động qua các yếu
          tô" lớn  và  các  oncogen,  khác  nhau.  Các  isozym  PKC  gồm  một
          gia  đình  ít  nhất  có  11  kinase  hoặc  serin  hoặc  threonin  khác
          nhau  -  mà  chúng tham   gia  trong sự biến  điệu  sinh  sản  và  biệt
          hoá tê" bào của đại tràng.

              Gia đình PKC có thể phân thành 3 nhóm  lớn.
              Nhóm  1:  cPKC,  và  trong  cPKC  còn  có  I  và  II  đòi  hỏi
          Phosphatidylserin (PS) calcium và diacil glycerol cho sự hoạt hoá.
              Nhóm 2: nPKC (s, E,  0 ,  và M) cái đó đòi hỏi calcium và biểu
          hiện hoạt động enzym trong sự có mặt của PS và DAG.
              Nhóm  3:  không  điển  hình  (aPKC)  I   và  T  chúng  đòi  hỏi
          chang  phải  calcium  cũng  không  phải  là  nguồn  thông  thương
          của  phospholipid  cho  hoạt  hoá  mà  là  phorobol  estes  không
          nhạy cảm.  Trong khi các  isozym  PKC  riêng lẻ  chứng  minh  chỉ


           100
   95   96   97   98   99   100   101   102   103   104   105