Page 89 - Vấn Đề Bảo Vệ Quyền Sở Hửu Trí Tuệ
P. 89

Chương 1: Khái quát chung về sở hữu trí tuệ                           89


                        họ). Ví dụ, từ năm 1790 đến năm 1836, là một nước nhập khẩu toàn bộ
                        công nghệ, Hoa Kỳ chỉ cấp Bằng độc quyền sáng chế cho chính công dân
                        của họ. Thậm chí đến năm 1836, lệ phí cấp Bằng độc quyền sáng chế đối
                        với người nước ngoài được quy định cao gấp 10 lần lệ phí đối với công
                        dân Hoa Kỳ. Chỉ đến năm 1861 thì người nước ngoài mới được đối xử
                        trên cơ sở không phân biệt (gần như hoàn toàn).

                             Đến năm 1891, Hoa Kỳ không chỉ bảo hộ Quyền Tác giả cho công
                        dân Hoa Kỳ nhưng một số hạn chế vẫn tồn tại đối với Quyền Tác giả của
                        người nước ngoài (ví dụ, kỹ thuật in phải là cách sắp chữ của Hoa Kỳ),
                        một lý do đã cản trở Hoa Kỳ gia nhập Công ước Berne về Quyền Tác giả
                        đến tận năm 1989.

                             Nhiều quốc gia đôi khi không bảo hộ sáng chế đối với một số loại
                        sáng chế trong những lĩnh vực công nghiệp nhất định. Thông thường, luật
                        hạn chế không bảo hộ các sản phẩm mà chỉ bảo hộ các quy trình sản xuất
                        sản phẩm. Các lĩnh vực  điển hình thuộc trường hợp này là thực phẩm,
                        dược phẩm và hoá chất, với lập luận rằng không thể dành độc quyền cho
                        những hàng hoá thiết yếu và cần phải khuyến khích tự do tiếp cận công
                        nghệ của nước ngoài hơn là khuyến khích khả năng sáng chế tiềm tàng của
                        ngành công nghiệp trong nước. Cách tiếp cận này  đã  được nhiều nước
                        chấp nhận và làm theo trong thế kỷ XIX và một số nước đến cuối thế kỷ
                        XX vẫn thực hiện, thậm chí gần đây một số nước và vùng lãnh thổ Đông
                        Á vẫn thực hiện (ví dụ Đài Loan và Hàn Quốc).

                             Bài học lịch sử chung chỉ cho chúng ta những nước đã có khả năng
                        làm cho chế định Quyền Sở hữu trí tuệ tạo điều kiện thuận lợi cho việc
                        tiếp thu công nghệ và thúc đẩy các mục tiêu về chính sách công nghiệp
                        của mình. Vì các chính sách của một quốc gia có ảnh hưởng đến lợi ích
                        của các quốc gia khác, luôn luôn phải có các khuôn khổ quốc tế cho các
                        tranh cãi về vấn đề sở hữu trí tuệ. Công ước Paris và Công ước Berne đã
                        thừa nhận những khuôn khổ này, và mong muốn sự nhân nhượng lẫn
                        nhau, nhưng cho phép có những linh hoạt đáng kể trong việc thiết lập các
                        chế  định sở hữu trí tuệ. Với sự ra  đời của Hiệp  định TRIPS, phần lớn
                        những linh hoạt này đã bị loại bỏ. Các quốc gia không thể tiếp tục theo
                        hướng  đã  được Thụy Sỹ, Hàn Quốc hay  Đài Loan thực hiện trong quá
                        trình phát triển của họ. Quá trình tiếp thu và phát triển công nghệ từ việc
   84   85   86   87   88   89   90   91   92   93   94