Page 105 - Vấn Đề Bảo Vệ Quyền Sở Hửu Trí Tuệ
P. 105
Chương 2: Các điều ước quốc tế ... sở hữu trí tuệ 105
độc lập với đăng ký có thể có tại bất cứ nước thành viên nào khác, kể cả
nước xuất xứ. Do đó, nếu đăng ký nhãn hiệu bị mất hiệu lực tại một nước
thành viên thì cũng sẽ không ảnh hưởng đến hiệu lực của đăng ký nhãn
hiệu đó tại các nước thành viên khác.
Khi nhãn hiệu đã được đăng ký hợp lệ tại nước xuất xứ, người đăng
ký nhãn hiệu đó có thể nộp đơn bảo hộ ở các nước khác với hình thức ban
đầu của nhãn hiệu đó. Tuy nhiên, đăng ký có thể bị từ chối trong một số
trường hợp nhất định, chẳng hạn như nhãn hiệu có khả năng xâm phạm
quyền đã đăng ký của các bên thứ ba, nhãn hiệu không có khả năng phân
biệt, nhãn hiệu trái với đạo đức hoặc trật tự công cộng hoặc nhãn hiệu có
khả năng lừa dối công chúng.
c3) Kiểu dáng công nghiệp
Công ước Paris chỉ có quy định yêu cầu các thành viên phải bảo hộ
Kiểu dáng công nghiệp mà không có bất cứ quy định nào về cách thức bảo
hộ để các nước thành viên phải tuân thủ. Do đó, các nước có thể bảo hộ
Kiểu dáng công nghiệp bằng Luật Sở hữu công nghiệp, Luật Quyền tác
giả hoặc Luật chống cạnh tranh không lành mạnh. Các nước thành viên
không thể không bảo hộ với lý do sản phẩm mang kiểu dáng không được
sản xuất tại nước đó.
c4) Tên thương mại
Các nước thành viên phải bảo hộ tên thương mại mà không được đặt
ra yêu cầu về việc nộp đơn yêu cầu bảo hộ hoặc đăng ký. Các nước có
quyền tự do đưa ra định nghĩa tên thương mại và cách thức bảo hộ tên
thương mại trong luật của mình.
c5) Chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ hàng hoá
Chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ hàng hoá là hai trong số các đối
tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ theo Điều 1(2) Công ước Paris. Cả
hai đối tượng này có thể được đề cập dưới một khái niệm rộng hơn là chỉ
dẫn địa lý. Các thành viên phải có các biện pháp pháp lý để chống lại việc
sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp các chỉ dẫn nguồn gốc mang tính chất lừa
dối đối với các hàng hoá hoặc đặc điểm phân biệt của nhà sản xuất hoặc
kinh doanh thương mại khác.