Giới thiệu về Thư Viện Bình Thuận

Quá trình hình thành và phát triển của Thư viện tỉnh Bình Thuận

1. Quá trình hình thành

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất. Tháng 8/1975, Thư viện tỉnh Tuyên Quang tặng cho tỉnh Bình Thuận 11.472 bản sách, cử cán bộ vào tỉnh Bình Thuận tập huấn, đào tạo cán bộ Thư viện, hướng dẫn thành lập Thư viện. Thư viện được thành lập vào ngày 25/4/1976, với tên gọi: Thư viện kết nghĩa Tuyên Quang - Bình Thuận; Thư viện trực thuộc thị xã Phan Thiết, trụ sở đặt tại số 02 đường Bà Triệu, thị xã Phan Thiết.

Năm 1977, Thư viện kết nghĩa Tuyên Quang - Bình Thuận chuyển thành Thư viện tỉnh Thuận Hải theo Quyết định thành lập số: 64-UB ngày 29/1/1977 của Chủ tịch UBND tỉnh Thuận Hải, trực thuộc Ty Văn hóa-Thông tin tỉnh Thuận Hải, trụ sở đặt tại số 02 đường Bà Triệu, thị xã Phan Thiết. Năm 1981 trụ sở Thư viện tỉnh chuyển về khu nhà 3 tầng, số 251 đường Trần Hưng Đạo, thành phố Phan Thiết (nay là trường Trung học phổ thông Phan Thiết) theo Quyết định số 376/QĐ/UB/TH ngày 25/02/1981 củaChủ tịch ƯBND tỉnh. Năm 1983 trụ sở Thư viện tỉnh chuyến về khu nhà 2 tầng, số 01đường Võ Thị Sáu, thành phố Phan Thiết (nay là trường Trung học phố thông Phan Thiết) theo Quyết định số: 1209 QĐ/UB-TH ngày 07/12/1983 của Chủ tịch UBND tỉnh.

Tháng 4/1992, tỉnh Thuận Hải chia tách thành 2 tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận, Thư viện tỉnh Bình Thuận được thành lập theo Quyết định số: 175/QĐ/ƯB-BT ngày 25/6/1992 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận.

Năm 1996, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận phê duyệt thiết kế kỹ thuật xây dựng trụ sở mới của Thư viện tỉnh theo quyết định số 280/QĐ-UBBT 12/1996, ngày 18/1/1997 khởi công xây dựng; là khu nhà cấp 2, 02 tầng (01 trệt, 02 lầu), diện tích xây dựng 475m2, diện tích sàn 1.425m2, diện tích sử dụng 822m2, ngày 24/1/1998 nghiệm thu, bàn giao công trình và ngày 19/4/1998 trụ sở Thư viện tỉnh Bình Thuận được khánh thành đưa vào sử dụng, từ đó Thư viện tỉnh Bình Thuận chuyển đến địa điểm hiện nay, tại số 286 (số cũ 226), đường Trần Hưng Đạo, thành phố Phan Thiết. Năm 2005 Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận ban hành Quy chế về tố chức và hoạt động của Thư viện tỉnh Bình Thuận theo Quyết định số: 2980/QĐ-CTƯBND ngày19/8/2005.

Tháng 4/2007 sáp nhập 3 Sở: Văn hóa-Thông tin, Thể dục - Thể thao và Du lịch thành Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Thuận. Do thay đối cơ quan quản lý, cho nên Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận ban hành lại Quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, tố chức cán bộ và mối quan hệ công tác của Thư viện tỉnh Bình Thuận theo Quyết định số 486/QĐ-UBND ngày 20/02/2009.

Thư viện tỉnh Bình Thuận được xếp hạng II từ ngày 01/4/1996 theo Quyết định số: 435/QĐ/UB-BT ngày 27/2/1997 của Chủ tịch UBND tỉnh. Đến năm 2006, theo Thông tư số: 67/2006/TT-BVHTT ngày 10/8/2006 của Bộ Văn hóa Thông tin hướng dẫn phân hạng và thực hiện chế độ phụ cấp chức vụ lãnh đạo tổ chức sự nghiệp thư viện, Thư viện tỉnh Bình Thuận được phân lại hạng III theo Quyết định số: 576/QĐ-UBND ngày 01/3/2007 của UBND tỉnh Bình Thuận, về việc phân hạng thư viện tỉnh.

2. Lãnh đạo Thư viện tỉnh qua các thời kỳ

* Giám đốc và tương đương:

1. Ông: Tạ Quang Hà, sinh năm: 1932, Quản lý Thư viện năm 1976.

2. Ông: Đinh Triều, Cán bộ tăng cường của tỉnh Thanh Hóa, quản lý Thư viện giai đoạn 1977-1978.

3. Bà: Nguyễn Thị Ngọc Hồng, sinh năm 1938, Chủ nhiệm Thư viện tỉnh Thuận Hải, giai đoạn từ năm 1978-1985.

4. Bà: Lê Thị Năm, sinh năm: 1956: Chủ nhiệm Thư viện tỉnh Thuận Hải giaiđoạn từ năm 1985 đến năm 1988, từ năm 1988 chức danh Chủ nhiệm được đổi thành Giám đốc và bà Lê Thị Năm làm Giám đốc đến năm 1992. Sau khi chia tách tỉnh, Thư viện tỉnh Bình Thuận được thành lập, bà Lê Thị Năm tiếp tục làm Giám đốc cho đến tháng 10/2011 nghỉ hưu theo chế độ.

5. Ông: Trần Văn Bé, sinh năm 1965, Giám đốc Thư viện tỉnh từ tháng 11/2011 đến nay.

* Phó Giám đốc:

1. Bà: Lê Thị Năm. Từ năm 1984-1985

2. Ông: Lê Văn Lưu, sinh năm 1950

Từ năm 1989 đến năm 1992, sau khi chia tách tỉnh Thuận Hải chuyển ra tỉnh Ninh Thuận.

3. Ông: Trần Văn Bé, từ tháng 4/1995 đến 10/2011.

4. Bà: Nguyễn Thị Minh Nguyệt, sinh năm 1968, t tháng 4/2011

đến 07/2017.
5. Ông Nguyễn Xuân Bình, Sinh năm 1966, từ tháng 9/2017 đến nay


 

hình 1


 

3. Sự phát triển của hệ thống thư viện công cộng tỉnh Bình Thuận qua 40 năm (1975-2015).

Hiện nay, có 01 Thư viện tỉnh, 10 thư viện các huyện, thị xã, thành phố và 07thư viện xã.

   - Giai đoạn từ 1975 – 1992, Thư viện tỉnh Thuận Hải

Thư viện tỉnh Thuận Hải thành lập tháng 1/1977 chuyển từ Thư viện kết nghĩa Tuyên Quang - Bình Thuận. Từ khi thành lập cho đến những năm đầu của thập kỷ 80 hệ thống thư viện công cộng tỉnh phát triển mạnh, 12/12 huyện, thị, đảo có thư viện hoạt động thu hút đông đảo người đọc, xóa điểm trắng về thư viện ở cấp huyện. Phong trào đọc sách báo ở các xã, phường, hợp tác xã dần dần được xây dựng, đã có 135 tủ sách xã, phường, họp tác xã, 100 thư viện trường học kết hợp tủ sách xã, phường phục vụ nhân dân.

Phong trào đọc sách báo phát triến mạnh đáp ứng tốt nhu cầu đọc của nhân dân cũng như góp phần xây dựng nền văn hóa mới trong những năm sau giải phóng. Đến năm 1986, khi đất nước chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường xóa bỏ bao cấp, các hoạt động văn hóa cơ sở trong đó có hoạt động thư viện cũng chịu ảnh hưởng, hậu quả là một số tủ sách cơ sở ngưng hoạt động, đến năm 1990 ngưng hoạt động hoàn toàn.

  • Giai đoạn 1992 đến 2015 (Thư viện tỉnh Bình Thuận)

Tháng 4/1992 tỉnh Thuận Hải chia tách thành 2 tỉnh Bình Thuận và Ninh

Thuận. Vốn sách được chia 1/3 cho Thư viện Ninh Thuận, khoảng 40.000 bản sách và một số trang thiết bị chuyên dùng.

Sau khi chia 1/3 vốn sách cho Tỉnh Ninh Thuận, Thư viện Bình Thuận còn lại 60.000 bản sách, củng cố lại bộ máy tố chức và triển khai các hoạt động thường xuyên phục vụ bạn đọc. Củng cố và xây dựng lại thư viện cấp huyện, 10/10 thưviện huyện, đảo, thành phố, thị xã được khôi phục và tô chức hoạt động, phục vụ nhu cầu đọc sách của nhân dân.

Năm 2006, thực hiện sự chỉ đạo của Bộ VHTT và ƯBND tỉnh về việc xã hội hóa hoạt động thư viện theo “Đ án phát triển xã hội hóa hoạt động văn hóa trên địa bàn Bình Thuận đến năm 2010”, ban hành kèm theo Quyết định số 77/2006/QĐ-UB- ND ngày 26/9/2006 của UBND tỉnh Bình Thuận, mạng lưới thư viện, tủ sách cơ sở dần dần được khôi phục.

Với quan đim đầu tư cho Thư viện là đầu tư giáo dục, nên ngành thư viện đã nhận được sự quan tâm của các ngành các cấp và đông đảo nhân dân ủng hộ. Chủ trương xã hội hóa thư viện đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ. Tỉnh Bình Thuận đã xây dựng được hệ thống thư viện rộng khắp với nhiều loại hình từ tỉnh đến huyện, xã, thôn. Mô hình kết họp thư viện (tủ sách) xã với tủ sách pháp luật, tủ sách thôn với tủ sách Bưu điện - Văn hóa xã, tủ sách Đồn Biên phòng và thư viện trường học kết hợp phục vụ nhân dân trên địa bàn được hình thành. Theo thống kê năm 2008, mạng lưới thư viện, tủ sách cơ sở toàn tỉnh có: 01 thư viện tỉnh, 10 thư viện cấp huyện, 28 tủ sách xã, 12 tủ sách thôn, 84 tủ sách Bưu điện - Văn hóa xã, 122 tủ sách pháp luật, 11 tủ sách Đồn Biên phòng, 305 thư viện trường học, 8 thư viện chuyên ngành...

Từ mô hình xã hội hóa hoạt động thư viện, kho sách lưu động của Thư viện tỉnh được xây dựng và triển khai luân chuyến sách-báo về cơ sở, vùng sâu, vùng xa, những nơi nhân dân không có điều kiện đến thư viện, qua đó góp phần nâng cao dân trí đáp ứng như cầu về thông tin cho nhân dân. Sau giai đoạn xã hội hóa, từ năm 2011 trở đi phong trào đọc sách báo lắng dần, ngưng hoạt động do nhiều nguyên nhân như: con người, kinh phí, cơ sở...

3. Các hoạt động

Từ khi thành lập đến nay Thư viện tỉnh Bình Thuận ngày càng được củng cố và phát trin, thu hút đông người đọc đến sử dụng Thư viện. Thư viện tỉnh Bình Thuận đã đáp ứng được nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí cho các tầng lớp nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức, học sinh, sinh viên trong tỉnh, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại đất nước.
 

hinh 3

Thư viện tỉnh từng bước được phát triến, hiện nay có 5 phòng chức năng; hệ thống phục vụ người đọc được t chức vớinhiều loại hình và nhiều đối tượng, như: đọc tại chỗ, mượn về nhà, phòng đọc báo - tạp chí, phòng đọc thiếu nhi, tra cứu và khai thác tài liệu số qua mạng; công nghệ thông tin được ứng dụng vào tất cả các lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ, số hóa tài liệu tăng cường nguồn lực thông tin, mở rộng diện phục vụ người đọc ra bên ngoài thư viện. Đội ngũ cán bộ thư viện được đào tạo chuyên môn từ trung cấp trở lên, đảm bảo năng lực tổ chức hoạt động và phát triển sự nghiệp thư viện. Một số hoạt động tiêu biếu:

*  V vốn sách:

Từ vốn sách ban đầu 11.472 bản sách do Thư viện tỉnh Tuyên Quang hỗ trợ, đến nay vốn sách và các tài liệu khác là 243.000 bản bao gồm đầy đủ các lĩnh Yực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, trong đó gần 2.000 tài liệu địa chí, 7.015 bản sách ngoại văn; trên 3.000 tài liệu số hóa.
 

hinh 4

*  Về  thông tin, tuyên truyền:

Hoạt động thông tin, tuyên truyền với các hình thức trưng bày, giới thiệu sách và biên soạn các bản thông tin-thư mục, nội dung chủ yếu tập trung vào các ngày kỷ niệm lịch sử, các sự kiện chính trị của tỉnh và quốc gia. Thông tin - thư mục chuyên đề Mừng Đảng – Mừng xuân được duy trì hàng năm; Thông tin tư liệu về Bình Thuận được biên soạn định kỳ hàng quý và gần đây chuyên mục Thông tin kinh tế được tổng họp và phát hành hàng tháng trên website được người đọc quan tâm đón nhận. T chức các cuộc thi đọc sách, kế chuyện theo sách, mời diễn giả nói chuyện chuyên đề giới thiệu về các tác phẩm văn học trong nước và nước ngoài và hội nghị bạn đọc. Phối hợp với các đơn vị trong và ngoài ngành tổ chức các hoạt động như: Hội báo xuân, ngày sách Việt Nam, Dạ hội điện ảnh, thi vẽ tranh “Nét cọ tuổi thơ”... nhằm tuyên truyền, giới thiệu về vốn sách và quảng bá về thư viện đến với người đọc.

*  Về  ứng dụng công nghệ thông tin:

Năm 1994, với sự hồ trợ máy vi tính, phần mềm quản trị cơ sở dữ liệu sách, máy in và một số thiết bị mạng từ Thư viện Quốc gia Việt Nam, công nghệ thông tin bước đầu được ứng dụng vào hoạt động thư viện. Mặc dù chỉ mới can thiệp vào một vài lĩnh vực nghiệp vụ, nhưng đây chính là tiền đề đế thư viện định hướng, đưa công nghệ thông tin ứng dụng vào tất cả các lĩnh vực nghiệp vụ như hiện nay.

Năm 2003, dự án đầu tư, ứng dụng công nghệ thông tin vào nghiệp vụ thư viện được thực hiện. Từ đó, với máy tính, phần mềm và thiết bị hiện đại hơn, Thư viện đã xây dựng cơ sở dữ liệu tích họp: quản lý sách, báo và quản lý người đọc; triển khai xây dựng cổng thông tin điện tử, lập website, tổ chức các dịch vụ tra cứu và khai thác thông tin trong và ngoài thư viện. Các loại tài liệu từng bước được số hóa làm đa dạng thêm nguồn lực thông tin tiến tới xây dựng thư viện số song song với thư viện truyền thống. Hiện nay, người đọc ở mọi nơi, mọi lúc đều có thế tra cứu nguồn lực thông tin và khai thác tài liệu số của Thư viện thông qua mạng internet.

*  Về  người đọc:                                   

Các đối tượng người đọc xem thư viện như là điếm đến đế phục vụ nghiên cứu, học tập, giải trí và cập nhật kiến thức đáp ứng cho nhu cầu học tập và học tập suốt đời. Số người đến đăng ký thẻ từ

2.000 đến 2.500 người/năm, mỗi năm tăng từ 10-15%, trong đó sinh viên, học sinh chiếm tỉ lệ 70-80%. Đến nay, tng số người đọc là 15.467 người (tính từ năm 2003). Số lượt người đến thư viện đọc sách và sử dụng các dịch vụ tìm kiếm và khai thác thông tin của thư viện gần 2 triệu lượt người/năm.

*  Về  xây dựng phong trào đọc sách cơ sở:

Sau khi Thư viện tỉnh được thành lập và đi vào hoạt động, mặc dù cơ sợ vật chất, vốn sách còn thiếu thốn nhưng mạng lưới thư viện huyện và cơ sở đã từng bước được xây dựng. Giai đoạn từ năm 1978 đến năm 1992 có 12 thư viện cấp huyện và 135 thư viện cấp xã, tủ sách... được thành lập và tố chức hoạt động. Sau khi chia tách tỉnh, số thư viện cấp huyện và cơ sở đến nay còn duy trì hoạt động là 10 thư viện cấp huyện và 7 thư viện cấp xã. Thư viện tỉnh tồ chức tập huấn nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ thư viện huyện và cơ sở; xây dựng kho sách lưu động luân chuyển sách cho thư viện huyện, thư viện xã, tủ sách xã, tủ sách đồn Biên Phòng và thư viện trường học.
 

hinh 5


 

* Về các hoạt động phối hợp của Thư viện tỉnh Bình Thuận với các Thư viện khu vực Miền Đông Nam bộ và Cực Nam Trung bộ:

Thư viện tỉnh Bình Thuận là thành viên của Liên hiệp Thư viện khu vực Miền Đông Nam bộ và Cực Nam Trung bộ. Liên hiệp gồm có 9 tỉnh, thành phố: Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Ninh Thuận và Tây Ninh; đây là tổ chức hoạt động nghề nghiệp trên lĩnh vực thư viện, nhằm mục đích trao đổi chuyên môn, chia sẻ thông tin và phối hợp tổ chức các hoạt động hỗ trợ để tuyên truyền và thu hút người đọc đến thư viện. Từ năm 1990, Thư viện tỉnh hàng năm đều tham gia các hoạt động chung của liên hiệp như: Liên hoan thiếu nhi kể chuyện theo sách, liên hoan tuyên truyền, giới thiệu sách, hội thảo chuyên đề, liên kết biên soạn Thư mục liên họp, trao đổi, chia sẻ tài liệu và phục vụ liên thư viện. Đảm nhiệm chức danh Chủ tịch luân phiên nhiệm kỳ 2004-2006. Liên hiệp thư viện khu vực Miền Đông Nam bộ và Cực Nam Trung bộ là liên hiệp tiêu biểu trong hệ thống thư viện công cộng cả nước, ở đây có những thư viện phát triến mạnh, được đầu tư xây dựng trụ sở và các trang thiết bị hiện đại, nguồn lực thông tin đa dang, phong phú, đứng đầu khu vực và quốc gia, như: Thư viện Khoa học tống hợp thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện tỉnh Đồng Nai, Thư viện tỉnh Bình Dương, Thư viện tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Sau gần 40 năm hình thành và phát triển, cùng với hệ thống Giáo dục và Đào tạo, Thư viện tỉnh đã góp phần tích cực vào sự nghiệp nâng cao dân trí, xây dựng con người, xây dựng xã hội. Mỗi bước phát triển của đất nước, mồi thành tựu về khoa học và công nghệ, mỗi sự phát triến của dân trí đều có sự đóng góp tích cực của hệ thống thư viện. Những người từng là học sinh, sinh viên, cán bộ hôm qua và là cán bộ, là lãnh đạo hôm nay đã từng là bạn đọc của thư viện. Những tri thức mà thư viện mang đến cho họ như những hạt mầm tràn đầy sinh lực, sinh sôi, nảy nở, đơm hoa, kết trái để đất nước ta nói chung và Bình Thuận nói riêng từng ngày, từng ngày thay da đổi thịt, ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hon và vươn tới phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Đây là niềm vinh dự, niềm tự hào của cán bộ thư viện, những con người cần mẫn, đóng góp công sức cho sự phát triển của đất nước và xây dựng con người Việt Nam phát tri en bền vững, thân ái, giàu lòng yêu nước.

4. Chức năng và nhiệm vụ

a. Chức năng:

    Thư viện tỉnh Bình Thuận là đơn vị sự nghiệp văn hóa thông tin trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bình Thuận, có chức năng thu thập, bảo quản, tổ chức khai thác và sử dụng chung các tài liệu được xuất bản tại tỉnh Bình Thuận và nói về tỉnh Bình Thuận, các tài liệu trong nước và ngoài nước phù hợp với đặc điểm, yêu cầu xây dựng và phát triển của tỉnh Bình Thuận về chính trị - kinh tế - văn hóa – xã hội – an ninh - quốc phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

b. Nhiệm vụ:

    1. Nghiên cứu, cụ thể hóa các chủ trương, chính sách và pháp luật của nhà nước về Thư viện phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh để tham mưu cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình UBND tỉnh về kế hoạch, quy hoạch phát triển sự nghiệp thư viện ở tỉnh Bình Thuận.

  2. Tổ chức phục vụ và tạo điều kiện thuận lợi cho người đọc được sử dụng vốn tài liệu của Thư viện tỉnh thông qua các hình thức phục vụ: đọc tại chổ, mượn về nhà và phụ vụ ngoài thư viện phù hợp với nội quy thư viện.

3. Thu thập và phát triển vốn tài liệu phù hợp với đặc điểm tự nhiên - xã hội - kinh tế - văn hóa của tỉnh và đối tượng phục vụ của Thư viện. Thu nhận các xuất bản phẩm của tỉnh theo chế độ lưu chiểu do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chuyển giao, các bản sao khóa luận, luận văn tốt nghiệp của sinh viên các trường đại học ở địa phương. Thu thập, tàng trữ và bảo quản lâu dài các tài liệu được xuất bản tại tỉnh và viết nói về tỉnh Bình Thuận. Xây dựng bộ phận tài liệu dành cho thiếu nhi, người khiếm thị và bộ phận tài liệu tiếng dân tộc phù hợp đặc điểm dân cư trên địa bàn. Tăng cường nguồn lực thông tin của Thư viện tỉnh thông qua mở rộng sự liên thông giữa Thư viện với các Thư viện trong nước và các Thư viện ngoài nước bằng hình thức cho mượn, trao đổi tài liệu, kết nối mạng vi tính. Thanh lọc ra khỏi các kho tài liệu không còn giá trị sử dụng theo qui định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

4. Tổ chức và thực hiện công tác tuyên truyền, giới thiệu kịp thời, rộng rãi vốn tài liệu phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Thuận. Biên soạn và xuất bản các ấn phẩm thông tin – thư mục, thông tin có chọn lọc phù hợp chức năng, nhiệm vụ và đối tượng phục vụ của Thư viện.

 5. Thực hiện ứng dụng công nghệ vào hoạt động Thư viện ở tỉnh, tham gia xây dựng và phát triển mạng thông tin – thư viện của hệ thống thư viện công cộng.

6. Hướng dẫn tư vấn tổ chức thư viện, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác thư viện ở tỉnh, tổ chức luân chuyển sách báo, chủ trì phối hợp hoạt động với các thư viện, các ngành khác ở địa phương.

 7. Tổ chức các hoạt động dịch vụ thu phí phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và phù hợp với qui định của Pháp luật.

 8. Thực hiện báo cáo định kỳ tháng, quý, 6 tháng, năm và báo cáo đột xuất về tình hình hoạt động của thư viện với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch và Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch.

9. Quản lý tổ chức, cán bộ và tài sản theo phân cấp và qui định của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Thực hiện các nhiệm vụ khác thuộc lĩnh vực thư viện do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao.

5. Cơ cấu tổ chức

- Giám đốc: Ông Trần Văn Bé

- Phó giám đốc: Ông Nguyễn Xuân Bình

Các phòng chuyên môn:

Phòng Hành chính - Bổ sung:

    Có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch, tài chính, kế toán, thống kê, báo cáo, cung ứng vật tư cho hoạt động sự nghiệp; tham mưu lãnh đạo tuyển dụng, đào tạo, quản lý cán bộ; cấp thẻ bạn đọc; bổ sung xây dựng vốn tài liệu, nhận lưu chiểu xuất bản phẩm địa phương, biếu tặng, tài trợ, trao đổi giữa các thư viện, bảo quản, tu sửa, phục chế tài liệu, sao chụp tài liệu cho bạn đọc; phối hợp các phòng chức năng khác tổ chức các hoạt động của Thư viện.

* Nhân sự 06 (01 đại học, 01 cao đẳng, 02 trung cấp).

  1. Huỳnh Xương (Trưởng phòng)
  2. Nguyễn Thị Hương (Phó trưởng phòng)
  3. Đỗ Thị Hải.
  4. Nguyễn Thị Quý
  5. Phạm Thu Vân
  6. Trần Văn Lệ

Phòng Phục vụ bạn đọc:

    Có nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu về sử dụng vốn tài liệu có trong hoặc ngoài thư viện thông qua các phòng: phòng đọc, phòng đọc báo tạp chí, phòng đọc thiếu nhi, phòng đọc ngoại văn, phòng đọc đa phương tiện, phòng đọc địa chí – tra cứu, phòng mượn và các phòng đọc chuyên biệt khác; hướng dẫn tra cứu và trả lời bạn đọc các thông tin về vốn tài liệu của Thư viện; tuyên truyền vốn tài liệu, bảo quản tài liệu; phối hợp các phòng chức năng khác tổ chức các hoạt động thư viện.
* Nhân sự: 06 người ( 2 đại học, 2 cao đẳng, 02 trung cấp)

  1. Trần Thị Hà (Trưởng phòng)
  2. Nguyễn Thái Ngọc Hân (Phó trưởng phòng)
  3. Phạm Thị Cát Vân
  4. Trần Thị Thanh Hiền
  5. Lâm Thị Thu Hường
  6. Đào Đức Thuận

Phòng Tin học:

Nghiên cứu và triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thư viện, quản trị mạng máy tính cục bộ (LAN), quản lý, bảo trì, bảo dưỡng máy tính và các trang thiết bị hiện đại khác.

* Nhân sự 04 người ( 4 đại học )

  1.  Phạm Đăng Lâm (Phó trưởng phòng phụ trách)
  2.  Nguyễn Thị Ngọc Tuyết
  3.  Nguyễn Thị Thanh Hằng
  4.  Huỳnh Thanh Phú

Phòng Xử lý tài liệu:

 Có nhiệm vụ thực hiện các chu trình xử lý kỹ thuật vốn tài liệu thư viện đúng theo yêu cầu về tiêu chuẩn nghiệp vụ thư viện.

* Nhân sự 05 người ( 03 đại học, 02 cao đẳng)

  1. Nguyễn Hưng Hạnh (Trưởng phòng)
  2. Nguyễn Nữ Hoàng Yến
  3. Giang Thị Ngọc Hiệp
  4. Huỳnh Ngọc Thu
  5. Nguyễn Thị Liên Vinh

Phòng Thông tin, Thư mục - Cơ sở:

    Có nhiệm vụ xử lý, biên soạn các ấn phẩm thông tin chọn lọc, các loại thư mục, hướng dẫn tra cứu và trả lời các thông tin vốn tài liệu thư viện. Tổ chức các hoạt động thông tin tuyên truyền, giới thiệu thư viện, tổ chức luân chuyển vốn tài liệu giữa các thư viện trong tỉnh, hướng dẫn, tham gia xây dựng mạng lưới thư viện, hướng dẫn và bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ thư viện trên địa bàn.
* Nhân sự 02 người (2 đại học)

  1. Nguyễn Thị Mỹ Thương (Phó Trưởng phòng)
  2. Trần Quang Thịnh

Đảng – Đoàn thể

Chi bộ: có 8 đảng viên

  1. Trần Văn Bé - vào Đảng 05/08/1996 (Bí thư)
  2. Nguyễn Thị Minh Nguyệt - vào Đảng 12/11/ 2003
  3. Huỳnh Xương - vào Đảng 19/05/1999
  4. Trần Thị Hà - vào Đảng 16/7/2004.
  5. Nguyễn Thị Hương - vào Đảng 03/02/2001
  6. Nguyễn Xuân Bình - vào Đảng 24/11/2006 (Phó bí thư)
  7. Nguyễn Thị Mỹ Thương - vào Đảng 02/3/2009
  8. Trần Quang Thịnh - vào Đảng 9/10/2012
  9. Trần Thị Thanh Hiền (12/11/2015)

10. Nguyễn Thị Ngọc Tuyết (23/12/2015)

11. Huỳnh Ngọc Thu (04/08/2016)

Công đoàn: có 24 đoàn viên

Ban chấp hành công đoàn:

  1. Nguyễn Xuân Bình (Chủ tịch)
  2. Nguyễn Hưng Hạnh (Phó chủ tịch)
  3. Trần Quang Thịnh (Ủy viên)

Chi Đoàn: có 12 đoàn viên

  1. Trần Quang Thịnh  (Bí thư)
  2. Phạm Thị Cát Vân (Phó bí thư)
  3. Huỳnh Ngọc Thu (Ủy viên)
  4. Giang Thị Ngọc Hiệp
  5. Đỗ Thị Hải
  6. Trần Thị Thanh Hiền
  7. Nguyễn Thị Ngọc Tuyết
  8. Phạm Thu vân
  9. Lâm Thị Thu Hường
  10. Nguyễn Thị Liên Vinh
  11.  Đào Đức Thuận
  12.  Nguyễn Thị Thanh Hằng
THƯ VIỆN BÌNH THUẬN
Truyện đọc
tra cứu
tai lieu so hoa
Liên kết Website

 

Góp ý
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây