Đình làng Phú Hội

Thứ hai - 03/12/2018 16:45
Đình làng Phú Hội thuộc huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Ngày nay, Phú Hội – cái tên được ghi trong các bản sắc phong của Triều Nguyễn – được thay bằng Hàm Hiệp. Vậy Phú Hội hay Hàm Hiệp?

1. Từ sắc phong: “cái lòng đỏ” cứ liệu lịch sử…

Trong cả năm bản sắc hiện tồn ở đình Phú Hội, các vua triều Nguyễn đều gọi nơi đây là Phú Hội. Và qua nội dung các bản sắc dành cho thần thành hoàng bổn cảnh nơi đây, người ta có thể nhìn thấy phần nào diễn trình tạo lập bộ máy hành chính của tỉnh Bình Thuận.

Bản sắc của vua Tự Đức ngày mười sáu, tháng Tư, năm thứ bảy ghi:

a

(Nhưng chuẩn Tuy Lý huyện, Phú Hội xã y cựu phụng sự, thần kỳ tướng hựu bảo ngã lê dân).

Nghĩa là: Cho phép (dân chúng) xã Phú Hội, huyện Tuy Lý thờ cúng thần như cũ, (để) thần còn bảo vệ cho con dân của ta.

Bản sắc của vua Tự Đức ngày hai mươi, tháng Mười một, năm thứ ba mươi ba ghi
a

(Sắc chỉ Bình Thuận tỉnh, Tuy Lý huyện, Phú Hội xã tòng tiền phụng sự Quảng Hậu Chính Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng Bổn cảnh Thành hoàng chi Thần).

Nghĩa là: Sắc chỉ ban cho (dân chúng) xã Phú Lợi, huyện Tuy Lý, tỉnh Bình Thuận cứ theo lệ được thờ phụng Thần Thành hoàng Bổn cảnh Quảng Hậu Chính Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng như cũ.

Bản sắc của vua Đồng Khánh ngày một, tháng Bảy, năm thứ hai thì viết:

a

(Khả gia tặng Dực Bảo Trung Hưng chi thần. Nhưng chuẩn hứa Bình Thuận tỉnh, Tuy Lý huyện, Phú Hội xã y cựu phụng sự, thần kỳ tướng hựu bảo ngã lê dân).

Nghĩa là: Nên gia tặng (mỹ danh) là thần Dực Bảo Trung Hưng. Cho phép (dân chúng) xã Phú Hội, huyện Tuy Lý, tỉnh Bình Thuận được thờ phụng như cũ, (để) thần còn bảo vệ cho con dân của ta.

[Như vậy, đến thời vua Đồng Khánh, Thần hoàng Bổn cảnh làng Phú Hội vốn là Thần Quảng Hậu Chính Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng vào đời vua Tự Đức, được tặng thêm mũ danh Dực Bảo Trung Hưng].

Còn bản của vua Duy Tân ngày mười hai, tháng Tám, năm thứ ba thì viết:

a

(Sắc chỉ Bình Thuận tỉnh, Hàm Thuận phủ, Phú Hội xã tòng tiền phụng sự Quảng Hậu Chính Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng Dực Bảo Trung Hưng Bổn cảnh Thành hoàng chi thần).

Nghĩa là: Sắc chỉ ban cho (dân chúng) xã Phú Hội, huyện Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận cứ theo lệ thờ phụng Thần Thành hoàng Bổn cảnh Quảng Hậu Chính Trực Thiện Đôn Ngưng Dực Bảo Trung Hưng như cũ.

Bản của vua Khải Định, ngày hai mươi lăm, tháng Bảy, năm thứ chính không khác mấy so với bản của vua Duy Tân trước đó, chỉ thêm chữ tôn (, đáng tôn kính, đáng kính trọng):
a
(Sắc Bình Thuận tỉnh, Hàm Thuận phủ, Phú Hội xã tòng tiền phụng sự Bổn cảnh Thành hoàng tôn Thần, nguyên tặng Quảng Hậu Chính Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng Dực Bảo Trung Hưng tôn Thần).

Nghĩa là: Sắc ban cho (dân chúng) xã Phú Hội, phủ Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận được phép theo lệ thờ cúng Thần Thành hoàng Bổn cảnh vốn được tặng (mỹ danh) là Thần Quảng Hậu Chính Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng Dực Bảo Trung Hưng như cũ.

Như vậy, từ đời vua Tự Đức đến đời vua Đồng Khánh, làng Phú Hội thuộc huyện Tuy Lý; từ đời vua Duy Tân đến đời vua Khải Định, Phú Hội thuộc phủ Hàm Thuận.

Địa chí Bình Thuận dựa vào các thư tịch của triều Nguyễn ghi rằng dưới thời Tự Đức, huyện Tuy Định của tỉnh Bình Thuận được đổi tên thành huyện Tuy Lý vào năm 1854. Bản sắc của vua Tự Đức ngày mười sáu, thánh Tư, năm thứ bảy (1854) dùng từ Tuy Lý là một bằng chứng tuyệt vời. Về sau, tỉnh Bình Thuận được chia lại, gồm hai phủ là Hàm Thuận và Hòa Đa, bốn huyện là Tuy Phong, Hàm Tân, Phan Lý Chàm và Tánh Linh. Một lần nữa, bản sắc của các vua Duy Tân, Khải Định có giá trị “rành rành định phận ở sách trời”. Những ai chưa đọc Đại Năm nhất thống chí mà chỉ biết bản sắc cũng có thể hình dung lịch sử của Phú Hội trong lòng lịch sử của huyện Hàm Thuận và tỉnh Bình Thuận dưới thời Nguyễn.

2. … Đến trách nhiệm với tiền nhân, lịch sử

Bước vào cổng đình Phú Hội, người ta thấy ngay ở phía tay phải một tấm bia lớn ghi bằng chữ Quốc ngữ giới thiệu về lịch sử, vị trí của ngôi đình, trong đó có mấy dòng rát đáng lưu ý: “Đình Phú Hội được tạo lập vào năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) […]. Hiện nay, đình còn lưu giữ 5 sắc phong do các đời vua triều Nguyễn ban tặng […]”. Tại Quyết định số 2233/QĐ/BT ngày 26-6-1995, định này được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hàng Di tích kiến trúc nghệ thuật Quốc gia.

Tuy nhiên, năm bản sắc phong mà tôi nêu trên, không có bản nào là của vua Thiệu Trị. Khi tôi nêu điều này, những người cao niên ở đây đều kinh ngạc. Vậy nó ở đâu? Căn cứ vào ngôn cảnh bản sắc phong của vua Tự Đức ngày mười sáu, tháng tư, năm thứ bảy, tôi khẳng định rằng nó từng tồn tại.

a

(Sắc Bổn cảnh Thành hoàng chi Thần, nguyên tặng Quảng hậu Chính Trực Hựu Thiện chi Thần, hộ quốc tí dân, nẫm trứ linh ứng).

Nghĩa là: Sắc ban cho thần

a

Sắc phong của Tự Đức (năm thứ??)

Thành hoàng Bổn cảnh, đã được tặng (mỹ danh) là Thần Quảng Hậu Chính Trực Hựu Thiện, giúp nước phò dân, linh ứng đã lâu.

Ai đã tặng (nguyên tặng) mỹ danh Quảng Hậu Chính Trực Hựu Thiện cho Thần Quảng Hậu Chính Trực Hựu Thiện trước vua Tự Đức? Tôi chủ quan nghĩ rằng chỉ có thể là vua Thiệu Tri. Bởi lẽ, khó có việc trong vòng bảy năm kể từ ngày ở ngôi, vua Tự Đức lại ban liên tiếp hai bản sắc phong. Bản sắc phong của vua Thiệu Trị ở đâu, Câu hỏi này xin dành cho ngành Văn hóa. Ngay cả khi giả định rằng chính vua Tự Đức “nguyên tặng” thì bản này hiện ở đâu?

a
Trong năm bản sắc phong, có hai bản đã cũ đến nao lòng. Bản gần nhất của vua Khải Định thủng một số chỗ; có chỗ bị sờn tróc (xem ảnh 1) mất hai chữ là sắc () và bình ()

Bản của vua Tự Đức năm thứ ba mươi ba bị rách toạt theo chiều dài (xem ảnh 2), dựa vào ngữ cảnh và đặc điểm phong cách ngôn ngữ văn bản (hành chính trung đại), tôi cho rằng các dòng 1, 2, 4, 5, 6, mỗi dòng bị mất 5 chữ, tổng cộng 25 chữ (mà trong khi dịch, tôi đã mạnh dạn khôi phục, cụ thể:

Dòng 1 bị mất các chữ: xã, tòng, tiền, phụng, sự các chữ còn lại là

a

“Sắc chỉ Bình Thuận tỉnh, Tuy Lý huyện, Phú Hội”)

Dòng thứ 2 bị mất các chữ: cảnh, thành, hoàng, chỉ, thần ( các chữ còn lại là

a

Quảng Hậu Chính Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng bổn”).

Dòng thứ tư bị mất các chữ: niên, chánh, trị, trẫm, tứ (các chữ còn lại là

a

“Sắc phong chuẩn kỳ phụng sự Tự Đức Tam thập nhất”).

Dòng thứ năm bị mất các chữ: ân, lễ, đăng, long, trật (các chữ còn lại là

a

“tuần đại khánh tiết kinh ban bảo chiếu đàm”).

Dòng thứ 6 bị mất các chữ: quốc, khánh, nhi, thân, tự (các chữ còn lại là

A

“đặc chuẩn hứa y cựu phụng sự dụng”).

Than ôi, cái mãnh giấy ghi 25 chữ này hiện nằm ở đâu trong đất đai tươi tốt của nơi được xem là một trong những vựa thanh long nổi tiếng của Bình Thuận.

Thứ nữa, Phú Hội là cái tên có tính truyền thống, được ghi chép xuyên suốt trong năm bản sắc phong của bốn đời vua. Phú Hội nghĩa là nơi trù phú để tụ lại. Thực tế, đây là khu vực đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa, cảnh trí hữu tình nên trên bước đường xuôi về phương Nam, lưu Dân Thuận – Quảng (chiếm phần đông) đã tinh ý nhận ra và dừng lại nơi này để lập làng, dựng nghiệp. Mà như thế, nó chính danh và hay hơn nhiều so với cái tên Hàm Hiệp mới xuất hiện mấy chục năm nay.

Đình Phú Hội là một di sản được công nhận từ năm 1995, Từ đó đến nay, vị bô lão duy nhất của địa phương biết Hán văn đã qua đời, các văn bản chữ Hán nói trên chưa từng được một cơ quan hay chuyên gia nào của tỉnh dịch ra Quốc ngữ dù chỉ cách tỉnh lỵ Phan Thiết chưa tới 5 cây số đường chim bay, con dân ở đây không một ai biết các bản sắc phong viết gì trong đó. Trong khi đó, cái khắc nghiệt của khí hậu nhiệt đới Nam Trung bộ từng ngày, từng giờ công phá những bản giấy cuộn tròn, phía phải (trái nếu nhìn từ ngoài vào) có triện son với bốn chữ Sắc mệnh chi bửu được đóng trang trọng. Bửu (hay bảo) nghĩa là quý. Quý biết nhường nào.

Còn bao nhiêu thiết chế như đình Phú Hội bị thất lạc các di sản hay di sản Hán, Nôm nằm ngủ yên trong sự quên lãng, vô tâm của hậu thế? Chúng ta phải làm gì khi mà ngày càng thưa vắng những người biết Hán văn, lại là văn ngôn (tức cổ văn)? Tất cả những gì người viết bài này (chỉ biết Hán văn ở mức võ vẽ) có thể làm được để tạ tội với tiền nhân là dịch và đánh máy vi tính toàn văn các bản sắc phong hiện tồn, in ra giấy để các vị bô lão nơi đây lồng khung kính như một cách cưỡng chống sự mai một theo phương châm dự phòng. Đây là trách nhiệm của mọi người, trong đó có cơ quan chức năng phải đi tiên phong. Nếu không, Luật Di sản đã, đang và sẽ đi vào đời sống một cách yếu ớt, nhợt nhạt màu đồng đại.

Đặng Ngọc Hùng

Xưa Nay.- 2018.- Số 501 (tháng 11).- Tr.57-59

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Mỗi tuần một câu chuyện
tra cứu
Truyện đọc
tai lieu so hoa
Liên kết Website

 

Góp ý
Thông kê truy cập
  • Đang truy cập141
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm139
  • Hôm nay21,661
  • Tháng hiện tại469,211
  • Tổng lượt truy cập5,296,163
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây