Ebook

Di tích và kho tàng Hoàng gia Chăm ở huyện Bắc Bình (Bình Thuận)

Thứ ba - 12/03/2019 07:59
Bắc Bình là nơi tập trung đông đồng bào Chăm nhất tỉnh Bình Thuận, bao gồm hai cộng đồng, theo tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, là Chăm bàlamôn (ahier) và Chăm bàni (awal), với các sắc thái văn hóa dân gian đa dạng của tộc người này, mà còn được ghi nhận trong lịch sử như là kinh đô cuối cùng của vương quốc chăm cổ.

chính vì vậy, Bắc Bình còn chứa đựng trong lòng nó nhiều di sản vật thể không chỉ mang đậm dấu ấn của một vương quốc cổ xưa mà còn là một chứng tích về sự giao thoa, tiếp biến văn hóa Việt - Chăm trong tiến trình lịch sử.
1. Đền thờ vua Po Klaong Mah Nai

Đền thờ vua Chăm Po Klaong Mah Nai, tọa lạc trên một đồi cát tại thôn Lương Bình, xã Lương Sơn, đền được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVII để thờ vua Champa Po Klaong Mah Nai tức là vua Po Mưh Taha thường được nhắc đền trong Biên niên sử Chăm(1). Đền thờ này lần đầu tiên được khảo tả chi tiết bởi Kiến trúc sư người Pháp H. Parmentier trong tác phẩm Thống kê khảo tả di tích Chăm ở Trung bộ xuất bản từ năm 1909 - 1918(2). Theo khảo cứu ban đầu của Parmentier đền thờ Po Klaong Mah Nai, mà ông gọi tên là Thuận Đồng, bao gồm năm hệ thống kiến trúc, quay về hướng đông, được xây theo hình chữ T: Một tiền đình hình chữ nhật phía trước có hai hàng cột (chạy theo chiều Đông - Tây, mỗi bên năm cột) đỡ phần mái ngói ở trên, tiếp đến là một bậc cấp đi lên gian tiền đình thứ hai cũng có mái che, bao gồm hai hàng cột chiều Bắc - Nam. Nối liền với tiền đình này là một nhà thờ có hành lang bao ở bồn mặt, có vách bao quanh mở cửa chính ở hướng đông và hai cửa phụ ở hướng nam, bắc, phần mái của ngôi nhà thờ có hai tầng mái ngói, phần hành lang cũng có mái che. Hai bên trái phải của đền thờ trung tâm cũng có hai điện thờ có cấu trúc, diện tích tương tự nhưng phần mái che chỉ có một tầng và phía trước không có tiền đình(3).
a

Đền thờ Po Klaong Mah Nai ở Bắc Bình, Bình Thuận

Parmentier cũng khảo tả rất chi tiết hai bức tượng thờ của vua và hoàng hậu trong hai đền thờ. Theo mô tả của ông, bức tượng vua Po Klaong Mah Nai được tạc trước một tấm tượng Kut (một biểu tượng thiêng trong tín ngưỡng Chăm, thường được người Chăm đặt tại các nghĩa trang để thờ cúng)(4), vua có đội vương miệng, có râu hình sóng lượn, có thể mặc áo hoặc cởi trần (?) ngực có vòng cổ và tay có đeo vòng, vua ngồi trên một phần bệ rộng được trang trí, chạm trỗ nhiều hoa văn. Trong khi đó hoàng hậu cũng được tạc lên một tấm tượng Kut, bà đội vương miệng, cổ và tay đều đeo vòng, trên cơ thể bà lộ rõ phần ngực và vú nên có thể là để trần không mặc áo(5).

Từ thời điểm đó cho đến nay hiện trang di tích và di vật trong đền thờ Po Klaong Mah Nai đã có nhiều thay đổi, đặc biệt vào năm 1964, đền thờ này đã được sữa chửa mới lại so với kiến trúc ban đầu, làm thay đổi đáng kể hiện trạng di tích. Bên cạnh đó, trong quá trình khảo sát chúng tôi nhận thấy có nhiều chi tiết liên quan đến đền thờ này mà Parmentier chưa đề cập hoặc đề cập nhưng chưa lỷ giải rõ ràng, cặn kẽ. Trước hết, cấu trúc kiến trúc cơ bản của đền thờ hiện nay vẩn giữ nguyên vẹn như sơ đồ và mô tả của Parmentier, tuy nhiên kiến trúc tổng thể của đền thờ này không chỉ mang hình chữ T như nhận định của Parmentier, mà theo chúng tôi đó là kiến trúc hình chữ Đinh theo các mô hình xây dựng đình, chùa, miếu thường thấy của người Việt. Một chi tiết khác dù Parmentier đã nói lướt qua qua nhưng không vẽ trong sơ đồ và cũng chưa miêu tả cụ thể đó là hình tượng linh vật xuất hiện trên phần mái của cả ba gian thờ. Nhìn bề ngoài hình tượng những con này giống như hình tượng rồng chầu nguyệt trong các kiến trúc tâm linh của người Việt nhưng xem kỹ phần đầu thì có thể thấy đây lại là đầu của một loài chim hay phượng hoàng. Như vậy, nhìn tổng thể thì linh vật không phải là rồng của người Việt, cũng không phải Makara trong thần thoại An Độ mà Parmentier phỏng đoán, ngược lại linh vật này giống chim Heng, một con vật thiêng trong huyền thoại của người Chăm được mô tả như là linh vật đưa thi hài người quá cố sang thiêng đường. Vì vậy linh vật này thường được vẽ và dán lên nhà hỏa táng trong tang lễ của người Chăm Bàlamôn ở cả khu vực Bình Thuận và Ninh Thuận(6).

Về di vật, ngoài bức tượng Po Klaong Mah Nai và hoàng hậu Po Bia Som, phía bên phải còn có một bức tượng đặt trong một gian thờ phụ được cho là của một vị thứ phi người Việt của vua Po Klaong Mah Nai, nhưng không biết tên gọi cụ thể của bà, hai bên tượng thờ này cũng có hai tượng Kut như trong gian thờ hoàng hậu Po Bia Som, hai tượng Kut này không phải chỉ dùng để trang trí mà theo lời người dân chính là tượng thờ các người con của mỗi bà vợ vua. Về cấu trúc chung của các bức tượng này, chúng tôi tán đồng với ý kiến của Parmentier cho rằng nó được tạc trên một hình tượng Kut (một biểu tượng thiêng trong tín ngưỡng của người Chăm). Tuy nhiên tôi muốn lý giải thêm về những điêu khắc trên bức tượng này, những hình tượng, họa tiết trang trí trên phần thân, phần đai lưng, bệ ngồi và đế tượng của vua, hoàng hậu thường biểu đạt những hình tượng bông hoa, xoán ốc, ngọn lửa, hoa lá cách điệu và nhiều mô típ khác rất gần gủi với các hoạ tiết trang trí trên tượng thờ Po Rame (Ninh Thuận)(7), hoa văn trong đám tang hay hoa văn trên các đồ vật sử dụng trong nghi lễ của người Chăm, điều này cho thấy rõ ràng nét điêu khắc của nghệ thuật Chăm thế kỷ XVII.

Mặc khác trong các đền thờ còn có những hình tượng, họa tiết trang trí cho thấy sự ảnh hưởng của văn hóa Việt. Ở đền thờ trung tâm của vua phía sau tượng thờ có một bức chạm rồng được vẽ lên mắt tường, bốn hàng cột chống trong đền, phần viền phía trước cửa đền cũng được chạm trổ xung quanh là hình tượng rộng Việt với nhiều màu sắc sặc sỡ, phía trên phần diền mái của đền thờ trung tâm cũng có trang trí các mô tiếp hình chữ Thọ trong tiếng Hán. Trong gian thờ của vị Hoàng hậu và Thứ phi không có bốn hàng cột chống và phần diền mái, phía trước cửa cũng không có hình tượng trang trí như đền trung tâm, nhưng bức tường phía sau tượng thờ của Thứ phi cũng có một hình vẽ Phượng hoàng với nhiều màu sắc, ngược lại bức tường sau tượng thờ Po Bia Som thì không có hình vẽ gi.

Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc cũng như những pho tượng của di tích đền thờ Po Klaong Mah Nai là những di sản quý giá thể hiện được dấu ấn của nền nghệ thuật Champa trong giai đoạn hậu kỳ. Thông qua các dấu ấn ấy ta thấy được nét đặc trưng riêng có của nghệ thuật Champa thời kỳ này so với các thời kỳ trước, cũng thông qua đó ta thấy được sự ảnh hưởng giao thoa của nền nghệ thuật Chăm và nghệ thuật Việt.
2. Đền thờvua Po Nit

Đền thờ Po Nit ban đầu được xây dựng vào khoảng nửa đầu thế kỷ XVII tại làng Thanh Hiếu, xã Phan Hiệp, để thờ vua Chăm Po Nit, tức vua Po Mathik Dhik trị vì vào khoảng năm 1603 - 1613. Đến năm 1973, có lẽ do đền thờ cũ đã bị xuống cấp nghiêm trọng hoặc sụp đổ hoàn toàn nên đền được dời về thôn Bình Hiếu (tiếng Chăm gọi là palei Yok Yang), xã Phan Hiệp, do đó kiến trúc đền thờ Po Nit hiện nay chỉ là đền thờ xây mới theo kiểu hiện đại. Không rõ ngôi đền ban đầu tại thôn Thanh Hiếu có cấu trúc tổng thể như thế nào, vì khi khảo sát ở đây Parmentier đã cho biết công trình này hầu như đã bị sụp đổ hoàn toàn, do đó ông không hề có một ghi chép hay vẽ sơ đồ gì về kiến trúc di tích này(8).
a

Tượng vua Po Klaong Mah ở Bắc Bình, Bình Thuận

Về kiến trúc công trình hiện nay, như đã nói, do chỉ được xây mới sau này nên công trình đã mang đậm ảnh hưởng của kiền trúc đền, chùa Việt. Khuôn viên của đền thờ có hình chữ nhật, đền thờ chính quay về hướng Đông chỉ là một kiến trúc nhà hình chữ nhật cố hai gian phòng: gian nhà phía trước (nằm về hướng Đông) là một phòng thờ một vị tướng có tên Po Kei Mat, hai bên tả hữu của gian phòng này là hai hành lang lộ thiêng. Phần gian nhà phía Tây mở rộng ra hai bên tả hữu, ở gian phòng phía Nam đặt tượng thờ vua Po Nit. Gian thờ phía Bắc có tượng Hoàng hậu Po Mưk Ja, một vị Thứ phi người Việt và nhiều tượng Kut khác. Phần mái của đền thờ chỉ gồm một tầng nhưng được chia ra ba phần: phần mái phía trước (hướng Đông) có hình hai con chim phượng chầu nguyệt, hai phần mái phía Tây song song với nhau theo chiều Đông Tây phía trên đều có hình hai con rồng chầu nhật. Hai bên tả hữu của đền thờ còn có hai dãy mộ Kut được che bởi một kiến trúc có mái che và các hàng cột đỡ chạy theo chiều Bắc Nam.

Mặc dù di tích này là kiến trúc mới, nhưng các tượng thờ của vua, hoàng hậu, thứ phi và các tượng Kut là những di vật cổ được di dời từ đền thờ cũ đến công trình mới. Dù không hề có một ghi chép nào đáng kể về đền thờ cũ nhưng Parmentier cũng đã có những dòng quan trọng cho các tượng thờ tại đền Po Nit. Theo khảo tả của Parmentier, tượng vua Po Nit có vẻ ngoài tương tự tượng vua Po Klaong Mah Nai, nhưng tay trái thì cầm một cái chớp hoa sen, vua mặc một chiếc áo sơ mi có dây đeo được trang trí bởi những bông hoa, toàn bộ bức tượng được đặt trên một bệ đá. Tượng hai vị Hoàng hậu và cũng được Parmentier mô tả với vẻ ngoài giống tượng Hoàng hậu tại đền Po Klaong Mah Nai bao gồm vương miện, áo thêu, có lỗ tai, nhưng bức tượng này có chiều cao thấp hơn và tay giữ một búp sen tương tự như tượng vua Po Nit(9). Qua những khảo tả của Parmentier ta có thể thấy tượng thờ vua Po Nit và các bà vợ của ông nhìn chung giống với các tượng thờ tại đền Po Klaong Mah Nai, nhưng theo một phần những ghi chép đó và quan sát trực tiếp của chúng tôi, các tượng thờ tại đền Po Nit cũng có các đặc trưng riêng, nhất là tượng của nhà vua. Trước hết, về diện mạo của vua Po Nit, bức tượng cho thấy nhà vua đội vương miện hình chữ nhật như Po Klaong Mah Nai, tuy nhiên, nếu như vương miện Po Klaong Mah Nai không có hình tượng gì, thì tượng vua Po Nit được vẽ hình mặt người hoặc mặt một con vật lên trên. Trên phần thân của bức tượng vua Po Nit cũng có chi tiết vòng đeo cổ hoặc cổ áo (cả hai khả năng) như tượng vua Po Klaong Mah Nai, nhưng dày hơn và có đính các hạt hình tròn ở giữa. Chi tiết trang trí trên đai thắt lưng của vua Po Nit cũng khác với tượng Po Klaong Mah Nai, đó là chi tiết các bông hoa bốn cánh, chi tiết này lại tương tự như trang trí đai thắt lưng của tượng vua Po Rame ở Ninh Thuận(10). Các họa tiết trang trí đi kèm xung quanh thân tượng vua Po Nit cũng có nhiều chi tiết vừa đặc trưng vừa tương đồng với các tượng khác cũng thời kỳ. Trên hai vai của vua Po Nit là hình các bông hoa bốn cánh tương tự hai vai của tượng vua Po Rame, phần sau gáy và hai tai, phần đùi của tượng được trang trí bởi hai hoa văn hình xoắn ốc thường thấy trên cả hai tượng Po Klaong Mah Nai và Po Rame. Đặc biệt nếu như phần bệ tượng Po Klaong Mah Nai không có trang trí gì thì bệ của tượng Po Nit có trang trí hình hai con rồng triều nhật, Parmentier không ghi nhận điều này trong các ghi chép và bản vẽ của mình nên chúng tôi không biết họa tiết rồng Việt này có từ xưa hay sau này mới được thêm vào, nhưng đây cũng là một chi tiết cho thấy sự ảnh hưởng văn hóa Việt. Như vậy, tượng thờ Po Nit vừa có những tương đồng với Po Rame vừa có điểm tương đồng với tượng Po Kloang Mah Nai, đồng thời cũng có nhiều đặc trưng riêng có của mình.

Ngoài tượng thờ, một điểm đặc biệt khác của đền Po Nit là các tượng Kut bằng đá ở hai bên tả hữu đền thờ. Ở hướng Bắc của đền thờ là một dãy Kut bao gồm 4 biểu tượng đá Kut, trong khi ở phía Nam là một dãy gồm 7 biểu tượng đá Kut, đặc trưng của các hòn đá Kut này chính là các hoa văn được khắc lên các biểu tượng Kut cho thấy đây có thể là Kut của các quan lại vì Kut của dân thường không cố trang trí hoa văn. Các tượng Kut ở đền thờ Po Nit có cấu trúc tổng thể rất đa dạng về kích thước lẫn hình dạng, về hoa văn, so với các Kut ở các vùng khác, hoa văn trên các biểu tượng đá Kut ở đền Po Nit rất phong phú về mô típ, cầu kỳ hơn về trang trí, họa tiết được biểu đạt dày đặc hơn trên toàn bộ phần thân Kut. Hoa văn của các biểu tượng Kut này đơn giản thì là hoa văn hình khối, các đường viền tạo thành các hình cong đối xứng, gập xuống móc lên, nhiều họa tiết có chóp hay đỉnh nhọn như trán người..., các mô típ trang trí phức tạp hơn thì có hình ngọn lửa, lá cây, bông hoa cách điệu, hình xoắn... Nhìn chung hoa văn trên các tượng Kut ở đền Po Nit rất đa dạng nó cho thấy nhiều nét tương đồng với các hoa văn Kut ở nhiều nơi khác, nhất là ở Ninh Thuận(11)... Tuy nhiên như đã nói, hoa văn trên tượng Kut của đền Po Nit cầu kỳ, phức tạp hơn so với các tượng Kut ở Ninh Thuận, đồng thời các mô típ, chủ đề của hoa văn cũng như mật độ các họa tiết trên bề mặt cũng đa dạng hơn các tượng Kut khác ở trong huyện Bắc Bình.
3. Bộsưu tập bảo vật của hoàng tộc Chăm

Ngày nay tại thôn Tịnh Mỹ, xã Phan Thanh còn có một tộc họ người Chăm là hậu duệ của các vua, chúa Chăm cuối cùng, họ vẫn đang lưu giữ nhiều báu vật quý giá gắn liền với các triều vua Chăm. Bộ sưu tập hoàng tộc này lần đầu tiên được thống kê và giới thiệu sơ bộ trong các ghi chép về các kho báu của các vị vua Chăm do Parmentier và E.M. Durand thực hiện vào năm 1905(12). Sau đó bộ sưu tập này được thống kê lại một lần nữa bởi Giáo sư Nghiêm Thẩm vào năm I960(13) và cũng được khái quát mấy dòng trong một tác phẩm về lịch sử Champa của hai tác giả Dohamine và Dorohiem vào năm 1965(14). Tuy nhiên, từ đó đến nay, theo thời gian các bảo vật trong kho tàng hoàng tộc Chăm Bắc Bình đã có nhiều hư hại và mất mát, theo lời kể của gia đình ban đầu số lượng hiện vật thuộc gia tộc là khoảng hơn 300 hiện vật, đến nay chỉ còn khoảng 100 hiện vật. Trong quá trình khảo sát và tham quan, chúng tôi chỉ được xem một số hiện vật tiêu biểu đang được trưng bày và giới thiệu cho mọi người. Qua quan sát và thống kê sơ bộ chúng tôi chia các hiện vật thuộc kho tàng hoàng tộc làm 4 nhóm:

  • Nhóm hiện vật bằng kim loại bao gồm vương miện, búi tóc của vua và hoàng hậu, bộ binh khí, nhạc cụ và các vật dụng sử dụng trong đời sống thường ngày của hoàng tộc trước đây và sử dụng trong nghi lễ hiện nay. Phần lớn các hiện vật này đều là các hiện vật được chế tác bằng kim loại quý là vàng và bạc.
  • Nhóm hiện vật bằng vải gồm chủ yếu là các áo bào, trang phục của vua và hoàng hậu.
  • Nhóm hiện vật bằng giấy là ba sắc phong của vua Nguyễn dành cho vua Po Klaong Mah Nai.

Trong số các bảo vật thuộc kho tàng hoàng tộc Chăm bộ vương miện và búi tóc của vua là các hiện vật có giá trị nhất không chỉ vì nó được chế tác chủ yếu bằng vàng và bạc mà bởi đó là những bảo vật có nhiều mô típ trang trí đặc sắc, cầu kỳ, tinh xảo thể hiện trình độ thẩm mĩ cao của người thợ hoàng kim. Đáng chú ý này là hai cái vương miện của vua, một cái vương miện đang được trưng bày thì có hình trụ gồm hai phần đều có các họa tiết trang trí: phần thân được trang trí bằng các hình tượng lá bồ đề hoặc lá nhĩ cách điệu đối xứng chạy dọc theo thân của vương miện; phần viền ở đế của vương miện thì được trang trí bởi họa tiết các con vật có thân rồng nhưng đầu gần giống chim chạy dọc theo vành mũ, có thể đó là hình tượng makara. Một vương miện khác có họa tiết trang trí phức tạp hơn, trong đó phần thân được trang trí bởi các chi tiết hình vòm có chóp nhọn bốn tầng từ thấp lên cao, trong khi phần đế vương miện được trang trí bằng các họa tiết hình ngọn lửa cách điệu.

Búi tóc của hoàng hậu bao gồm 4 cái, 2 búi tóc hình chóp tròn và hai búi tóc hình trụ dẹp có phần đầu nhô lên cao (nay không còn nữa mà chỉ còn thấy trong các ghi chép của Parmentier và Durand), cũng như vương miệng của vua, các búi tóc này được chế tác bằng vàng, trang trí rất tinh xảo, tỉ mỉ với nhiều mô típ trang trí phức tạp, đa dạng. Hai búi tóc có hình chóp tròn được phân ra thành 3 đồ hình trang trí từ thân xuống đế: phần thân chiếm diện tích lớn nhất trong đó có một dải trang trí chạy giữa từ trước ra sau mang theo các họa tiết trang trí đường cong đối xứng nhỏ dần từ thân lên đỉnh búi tóc, hai bên phần thân cũng có các họa tiết đường cong uốn lượn đối xứng. Phần viền phía dưới đế của búi tóc thì được phân ra làm hai đồ hình trang trí chạy quanh đế của búi tóc phía trên là đồ hình các vòng tròn đối xứng, đồ hình phía dưới cùng của 2 búi tóc thi có khác biệt, một búi tóc thì có mô típ các hình chóp tròn nhô về phía trước và có phần vành ở đế bè xuống, búi tóc còn lại thì có họa tiết hình sóng lượn chạy dọc theo vành búi tóc và phần đáy là một vành đứng không bè ra như búi tóc kia. Về hai búi tóc có hình dẹp, chúng tôi không có điều kiện quan sát, tuy vậy, thông qua miêu tả cũng như hình ảnh của Parmentier và Durand có thể thấy các búi tóc này cũng được trang trí rất tỉ mỉ, cầu kỳ với nhiều đồ hình trang trí phức tạp tương tự các hoa văn trên hai búi tóc hình chóp tròn(15).

Ngoài bộ sưu tập vương miện và búi tóc của hoàng tộc, trong kho tàng hoàng tộc Chăm Bắc Bình ta cũng cần phải kể đến tập hợp các hiện vật đồ dùng trong sinh hoạt trước đây và trong nghi lễ hiện nay với đầy đủ các kích cỡ, kiểu dáng như hộp đựng trầu, chén đựng trầu, khay trầu, các hũ, lọ đựng nước (patil, pata), chân đèn... hầu hết các hiện vật này đều được làm bằng kim loại quý nhiều nhất là bạc. Tập hợp các hiện vật này không chỉ có giá trị về vật chất mà còn có nhiều giá trị trên các binh diện nghệ thuật và tâm linh, giá trị nghệ thuật của các hiện vật này được đánh giá dựa trên các trang trí, các họa tiết chạm trổ tinh tế nhưng điêu luyện thể hiện tài hoa của người thợ điêu khắc. Hoa văn được khắc trạm trên bề mặt các hiện vật này cũng phong phú, đa dạng và gần gũi với hoa văn trên các vương miện và búi tóc bao gồm các họa tiết đường cong đối xứng, hình tượng cây lá, chim, hình người, ngọn lửa cách điệu... đây là những chủ đề trang trí rất quen thuộc đối với nghệ thuật điêu khắc Chăm thế kỷ thứ XVII. Đặc biệt trong bộ sưu tập này còn có sự xuất hiện của các chi tiết trang trí mang đậm ảnh hưởng của mỹ thuật Việt đó là hình tượng các con phượng hoàng trên nắp các hộp đựng trầu trên thân của các hũ, lọ đựng nước.

Trang phục và trang sức của các vua, hoàng hậu, công chúa, hoàng tử cũng là những hiện vật đáng kể của kho tàng hoàng tộc Chăm. Hoàng bào của vua, hoàng hậu và trang phục của các thành viên hoàng gia ngày xưa là bộ áo dài thường mặc kèm với váy, đi kèm với đó là các đôi hài chỉ có trong giới thượng lưu với chất liệu chủ yếu là vải lụa bao gồm đầy đủ các màu sắc. Nổi bật là các chi tiết trên các bộ áo bào của vua, hoàng hậu được trang trí bằng các hạt cườm đính trên phần thân áo, một số áo thì có phần cổ áo dài mà các hạt cườm nhỏ được đính lên trên ấy, ngoài ra các áo này không có có trang trí gì đặc biệt, không có nhiều họa tiết trang trí cầu kỳ, phức tạp như áo bào của vua, quan người Việt thời xưa. Bộ trang sức của hoàng gia bao gồm chủ yếu là các đôi bông tai được làm bằng kim loại quý với đầy đủ kích thước, hình dạng, đặc biệt trên những bông tai này cũng có điêu khắc, chạm trổ với nhiều họa tiết phức tạp.
4. Kết luận

Giá trị nổi bật của nền văn hóa Chăm ở huyện Bắc Bình là sự bảo tồn và kết hợp của văn hóa cung đình bên cạnh văn hóa dân gian, ở đó dấu ấn của văn hóa cung đình không bị biến mất hoàn toàn mà phối hợp hài hòa với đời sống văn hóa đương đại để trở thành một bản sắc riêng có của người Chăm trong vùng. Những thành tố quan trọng trong dấu ấn văn hóa cung đình ở huyện Bắc Bình đó là các di sản văn hóa vật thể bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa như đền thờ Po Klaong Mah Nai, Po Nit và các báu vật, hiện vật của hoàng tộc tại Tịnh Mỹ. Những di sản này là minh chứng quan trọng cho thấy Bắc Bình vẫn còn lưu dấu trong lòng nó những tàn tích của một trung tâm hành chính cuối cùng của vương quốc Champa trong khoảng thế kỷ XVII - XIX, do vậy đó cũng là những dữ liệu sống động ghi lại lịch sử thoái trào của một vương quốc cổ.

CHÚ THÍCH:

  1. Theo biên niên sử Chăm vua Po Mưh Taha trị vì trong khoảng năm 1622 - 1627, trong dân gian Chăm không có nhiều giai thoại về vua Po Mưh Taha, người ta chỉ biết ông là cha vợ của vua Po Rame (1627 - 1651). Sau ngày từ trần ông đã nhường ngôi lại cho con rể của mình (Dẫn theo: Po Dharma, Chroniques du Panduranga, Paris, 1978).
  2. H. Parmentier, Inventaire Descriptif Des Monuments Cams de L’Annam, EFEO, Vol XI, 1909 - 1918, pp.38-41.
  3. Như trên, pp.38 - 39.
  4. Sử Văn Ngọc, “Tục thờ Kut của người Chăm Bàlamôn”, trong Tagalau 6, Nxb. Văn Nghệ, Tp. Hồ Chi Minh, tr.118- 121.
  5. Như trên, pp. 39-41.
  6. Phan Văn Dốp - Phan Quốc Anh - Nguyễn Thị Thu (Đồng Chủ biên), Văn hóa phi vật thê người Chăm Ninh Thuận, Nxb. Nông Nghiệp, Hà Nội, 2014, tr.248 - 251, 416-417.
  7.  Ngô Văn Doanh, Nghệ thuật Champa: câu chuyện của những pho tượng cổ, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 2014, tr.ioi- 108.
  8. H. Parmentier, sđđ, p.45.
  9. Như trên, pp.46 - 47.
  10. Về nghệ thuật điêu khắc, trang trí trên tượng Po Rame (Ninh Thuận) xem: Ngô Văn Doanh, sđd, tr.ioi -108.
  11. Phan Văn Dốp - Phan Quốc Anh - Nguyễn Thị Thu (Đồng Chủ biên), sđd, tr.270 - 271.
  12. H. Parmentier - E.M. Durand, “Le Trésor des rois Chams”, trong Bulletin de l’Ecole Française d’Extreme-Orient (BEFEO), V, 1905, pp.1-146.
  13. Nghiêm Thẩm, “Đi thăm kho tàng của các vua Chăm”, trong Văn hóa Nguyệt san, số 56 (11/1960), tr.1359 - 1360; số 57 (12/1960, tr.1567 - 1575; “Sơ lược về kho tàng chứa bảo vật của các vua Chăm”, trong Việt Nam Khảo cổ tập san, số 1, 1960, tr.151-180.
  14.  Dohamine - Dorohiem, Dân tộc Chàm lược sử, Saigon, 1965, tr. 112.
  15.  Parmentie - Durand, tlđd, pp.41 - 42.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Lâm Tấn Bình (Chủ biên), Di tích và Lễ hội của người Chảm Bình Thuận, Nxb. Tri Thức, Hà Nội, 2016.
  2. Dohamine - Dorohiem, Dân tộc Chàm lược sử, Saigon, 1965.
  3. Ngô Văn Doanh, Nghệ thuật Champa: câu chuyện của những pho tượng cổ, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 2014.
  4. Phan Văn Dốp - Phan Quốc Anh - Nguyễn Thị Thu (Đồng Chủ biên), Văn hóa phi vật thể người Chăm Ninh Thuận, Nxb. Nông Nghiệp, Hà Nội, 201
  5. Sử Văn Ngọc, “Tục thờ Kut của người Chăm Bàlamôn”, trong Tagalau 6, Nxb. Văn Nghệ, Tp. Hồ Chi Minh, tr.118-121.
  6. Parmentier. H, Inventaire Descriptif Des Monuments Cams de L’Annam, EFEO, Vol XI, 1909 -1918.
  7. Parmentier. H — Durand. E.M, “Le Trésor des rois Chams”, trong Bulletin de l’Ecole Française d’Extreme-Orient (BEFEO),V, 1905, pp.l -146.
  8. Nghiêm Thẩm, “Đi thăm kho tàng của các vua Chăm”, trong Văn hóa Nguyệt san, sô 56 (11/1960), tr.1359 - 1360; số 57 (12/1960, tr.1567-1575.
  9. Nghiêm Thẩm, “Sơ lược về kho tàng chứa bảo vật của các vua Chăm”, trong Việt Nam Khảo cổ tập san, số 1, 1960, tr.151 – 180.

Đổng Thành Danh // Xưa và nay.- 2019.- Số 504 (tháng 2).- Tr.54-58

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Mỗi tuần một câu chuyện
Truyện đọc
tai lieu so hoa
tra cứu
Liên kết Website

 

Góp ý
Thông kê truy cập
  • Đang truy cập150
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm147
  • Hôm nay12,254
  • Tháng hiện tại727,709
  • Tổng lượt truy cập7,799,744
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây